MẬT MÃ SINH MỆNH CỦA 5 NHÓM NGƯỜI VÀ 3 TẠNG NGƯỜI ( tiếp theo )
Lông mày thọ tinh: Lông mày rậm, thẳng, dầy, trong lông mày có nhiều sợi lông dài nhỏ mà nhọn, chân lông mày có 3 sợi lông mày dài nhỏ và nhọn hướng xuống dưới, chứng tỏ người này sống rất trường thọ. Kiểu lông mày này còn gọi là lông mày La Hán, đầu lông mày thưa, đuôi lông mày phân tán, lòng dạ khoan dung độ lượng, trường thọ. Trong đám lông mày mọc ra một hoặc một vài sợi lông mày rất dài, được gọi là “Lông mày may mắn”, báo hiệu sẽ có niềm vui bất ngờ.
Quan niệm của người xưa: “Lông mày cong cong, là người có nhiều anh em bạn bè; lồng mày mọc ở góc mắt là người có nhiều bạn bè tốt; lông mày ngắn là người sống cô đơn; hai lông mày sát nhau là người cố chấp, tiếu nhân; hai lông mày hướng lên trên là người cương trực; hai lông mày mọc ngược là người giảo hoạt, điêu toa; lông mày mềm rủ xuống như sợi tơ là người tham lam vô độ; lồng mày cong cong như thiên nga là người sắc nước hương trời”.
. Mắt
Mắt là cung vị của gan thận. Mắt thể hiện tinh lực, tiêu biểu cho sự nghiệp, tiêu biêu cho tâm linh.
Xét về hình dáng, mắt quý nhân gồm có: Mắt rồng, mắt phượng, mắt hô, mắt trâu, mát sư tứ, mắt voi, mắt khỉ...
Mắt rồng: To và đen, lòng đen lòng trắng rõ ràng, ánh mắt sáng như tia chớp, nhìn xa tròng rộng, khí tàng không lộ ra ngoài, vừa có uy lực vừa mềm nhưng lại vừa cương, mắt hình chữ nhật (tl). Thông minh, tháo vát nhanh nhẹn, tinh lực sung mãn, có sức hấp dẫn, tướng quý nhân (Hình 25:8-(l)).
Mát phượng: Đen trắng rõ ràng, mắt to và đen, thon dài, mắt sáng, mắt dài nhưng tròn, thông minh, hấp dẫn, tinh nhanh nâng nổ, nhiệt tình (Hình 25:8-12).
Mắt hô: Mắt to. sáng, con ngươi ngắn và tròn như mắt rồng, chì có điồu mắt không đen. tính tình cương trực, có uy lực. Người có kiêu mắt này thường là nhân vật lãnh đạo kiên cường của một cơ quan đơn vị nào đó (Hình 25:8-(3)).
Mắt sư tử. Mắt to, uy nghiêm, thường đi kèm với lông mày rậm, tính tình trung hậu không khắt khe, phú quý nhân từ (Hình 25:8-(4)).
Mắt trâu: Mắt to tròn, vuông vắn, tương đối ngắn, tướng mạo phú quý (Hình 25:8-(5)).
Mắt voi: Nhỏ và dài, nếp nhăn trên và dưới nhỏ và nhiều con agươi nhỏ, tính tình ôn hòa, mặt mũi hiền lành, tướng mạo hiền từ iHình 25:8-(6)).
Mẩt khỉ: Con ngươi đen, sóng mắt thẳng, chuyển dộng thoải mái, nước mắt chảy ròng. Người này sinh ra đã phải suy nghĩ, thông minh hơn người, sức chú ý tốt, động tác nhanh nhẹn (Hình 25:8-(7)).
Mắt người xấu gồm: Mắt rắn, mắt lợn, mắt say lờ đờ, mắt hoa đào, mắt sói, mắt dê....
Mắt rắn: Mắt hình tam giác, con ngươi vàng hoặc đen, tròn và có màu đỏ giống như hạt cát đỏ. Người xưa quan niệm: “Mắt có hình tam giác luôn tìm cách hại người”, thường là người có thân hình gầy gò (Hình 25:9-(l)).
Mắt sói: Con ngươi vàng, giống như mắt rắn nhưng dài hơn, những người có mắt sói thường tham lam, độc ác, giàu nhưng không nhân từ, có chức có quyền nhưng không chính nghĩa, người có mắt sói thường là người có thân hình gầy gò (Hình 25:9-(2)).
Mắt lợn: Mắt nhỏ, con ngươi den, mắt trắng hơi đen, nhìn không rõ, ánh mắt sắc, mắt nhắm như đang ngủ nhưng không phải là ngủ, mắt lờ đờ khi phải suy nghĩ về việc gì đó. Người này, thường béo, sáng bóng, hoặc gầy gò (Hình 25:9-(3)).
Mắt say lờ đờ, mắt hình hoa đào, mắt hạc: Kiểu mắt này có con ngươi màu vàng hoặc vàng đỏ, tụ máu, dâm loạn, giống như người say rượu, hay nhìn liếc ngang giống như người đang chạy trôn. Người này thường gian giảo, nguyên khí bị tổn thương, hoặc đầu tóc bóng lộn, mặt hoa da phấn, mỡ máu cao, nhu cầu tình dục cao, yếu đuối, thiếu tính quyết doán trong công việc (Hình 25:9-(4)).
Mắt tai họa: Người có kiểu mắt này thường rất hay gặp tai họa.
Mắt cá: Mắt giống như mắt cá chép, hai con ngươi to và lồi ra ngoài, ánh mắt lờ đờ, thần sắc đau buồn, con ngươi nổi lên và lộ ra ngoài, con ngươi hơi đỏ. Người có mắt kiểu này thường dễ tức giận, ba hoa, thô bạo, đoản thọ, cần phải nhanh chóng chữa trị (Hình 25:10-(l)).
Mắt cá sấu: Mắt nhỏ dài, con ngươi nhỏ, mắt trắng dữ tợn. Theo quan niệm của người xưa: “Mắt nhiều lòng trắng là gái sát chồng, đối với nam giới mắt nhiều lồng trắng thì đần độn”. Những người có kiểu mắt này thường bị đần độn bẩm sinh, não phát triển không hoàn thiện, thiểu năng trí tuệ. Kết giao với loại người này cần phải thận trọng (Hình 25:10-(2)).
Người xưa quan niệm: “Con ngươi đen, to và ổn định thường là người hiền hậu; phụ nữ nhìn liếc ngang liếc dọc thường là người không tốt, không trong sạch; mắt hình tam giác, lòng đen to thì tâm địa độc ác; mắt tròn, nhỏ và trơn là người sống cởi mở”. “Mắt hiền từ ắt là người lương thiện; mắt hung dữ ắt là người xấu, mắt liếc ngang liếc dọc là người luôn đô kị; mắt cận thị là người thông minh; mắt nhìn lên là người lịch sự; mắt nhìn xuống là người tâm địa hiểm ác; mắt nhìn thẳng là người chính trực, mắt nhìn thấp là người nhát gan; mắt nhìn lung tung là người nông nổi, bộp chộp; mắt luôn nhìn trộm người khác là người dâm dâng; mắt bình thường là người nhân đức, mắt nhìn xa là người hiền từ".
Hai mắt thái âm và thái dương phải có lòng trắng và lòng đen rõ ràng, lông mi dài và nhỏ, cân đốì. Mắt có lòng đen nhiều hơn lòng trắng, mắt sáng thường là người có sao âm dương chiếu mệnh, đại phú quý, xương cốt khỏe mạnh. Mắt có lòng trắng và lòng đen rõ ràng, lông mày mịn, thưa và dàí, thường là những người sống trường thọ, không có bệnh tật, cả đời sung túc phú quý. Anh mắt thần bí, mắt đong đưa, nhìn bên nọ liếc bên kia. Lông mày mịn và dài, tinh thần đao động, nhan sắc bình thường, cử chỉ đứng đắn. Khi nhìn mặt nước từ xa thấy có ánh sáng phản chiếu lên, giống như những nhành hoa đang đung đua trên mặt nước, đây là người cương nghị trong công việc, tích cực, chịu khó, giống như thả hổ về rừng.
Mắt đẹp và đoan chính, nhỏ và dài, lòng tử ổn định nhưng đong đưa, khi thì nhìn lên, lúc thì nhìn xuống, nhìn tập trung vào một vật khá lâu, cho thấy người này rất tập trung trong công việc, làm
việc quên mình. Người có mắt nhỏ nhưng không dài thường là người có vóc dáng nhỏ xinh, tính tình hiền hoà. Ngược lại người có đôi mắt dài nhưng to thường là người xấu tính, nham hiểm. Mắt đoan trang thì con người cũng đứng đắn, làm việc tự giác, chính trực, mắt đoan chính thì tâm không tà. Khi kết bạn cũng nên xem đôi mắt của họ, người có mắt liếc như dao cau thường là người không tốt, kết thân với người đó sẽ rất nguy hiểm, do đó khi kết bạn cần phải hết sức thận trọng.
. Đôi mắt thề hiện bệnh tình của lục phủ ngũ tạng
Khoé mắt trong và khoé mắt ngoài thể hiện mạch máu ở tim, do tim duy trì sự hoạt động của hệ thống tuần hoàn máu. Long nhãn của mắt tượng trưng cho gan, gan liên quan đến gân, gân khoẻ thì mắt đen. Củng mạc (ngọc trắng hoặc mắt trắng) tượng trưng cho phổi, phổi điều khiển khí, khí tốt thì con ngươi hơi trắng. Con ngươi tượng trưng cho thận, thận liên quan đến xương, tinh hoa của xương là đồng tử, mí mắt trên tượng trưng cho lá lách, lá lách liên quan đến bắp thịt, tinh hoa của bắp thịt là mí mắt trên.
Xem mắt chẩn đoán bệnh:
Lòng trắng: Nếu màu đỏ thì bệnh ở tim, màu trắng thì bệnh ở phổi, màu vàng thì bệnh ở lá lách, màu xanh thì bệnh ở gan, màu đen thì bệnh ở thận, củng mạc (lòng trắng) màu vàng thường là màu hoàng đản.
Khoé mắt: Nếu có màu đỏ là biểu hiện của bệnh tâm hoả, màu
trắng đục là biểu hiện của máu ở tim bị hư tổn, màu xanh là biểu hiện của bệnh gan.
Vành mắt: Phía trên và dưới đều có màu xanh hoặc màu tro xám, lòng trắng có nhiều tia máu (tia máu xuyên qua đồng tử), mí mắt trên hơi hồng và phù thũng, vẻ mặt mệt mỏi, cho thấy người này suy nghĩ quá nhiều, lao tâm khố tứ, mất ngủ, ngủ không đủ, suy nhược thần kinh, tinh thần buồn rầu...
Mí mắt trên: Mí mắt trên có màu đỏ và ướt là biểu hiện của bệnh liên quan đến lá lách; màu vắng đỏ là bệnh nóng trong; màu xám là biểu hiện của bệnh suy thận, màu xanh cho thấy cơ thể có chỗ bị đau, trên và dưới mí mắt đều tươi sáng là biểu hiện của bệnh hen xuyễn, phía trên mí mắt có màu xám biểu hiện của bệnh ho do đờm, phía dưới mí mắt có màu tro đen biểu hiện của bệnh do uô'ng đồ lạnh, mắt đen pha chút màu đỏ biểu hiện của bệnh hen. Mí mắt có màu tím lẫn với màu xanh cho thấy người này bị chảy máu dưới da thường là vết thương bên ngoài mắt hoặc bệnh thiếu máu...
Khoé mắt trong: ở bộ phận này của người trung niên xuất hiện vết ban màu vàng gây ra bởi hiện tượng mỡ tích tụ dưới da.
Con ngươi: Con ngươi lồi ra, cổ phù thũng, chứng tỏ cơ năng của tuyến giáp trạng có vấn đề. Con ngươi hơi lồi ra và chuyển động lên xuống chứng tỏ phổi có bệnh.
Trạng thái của mắt: Mắt mờ chứng tỏ tỳ vị suy nhược, mắt nhìn nghiêng chứng tỏ bệnh liên quan đến gan; mắt nhìn lên, mắt trợn tròn nhìn thẳng, đồng tử mắt giãn ra chứng tỏ tình trạng bệnh tật của người này hết sức nguy kịch, khó qua khỏi.
Hốc mắt đẫm nước, mí mắt trên và dưới sưng lên cho thấy tỳ vị suy nhược, sưng lá lách. Mí mắt dưới phù thũng, cho thấy bệnh suy thận khí ở người già, sau khi ngủ dậy mí mắt bị sưng cho thấy người này bị viêm thận cấp tính, mí mắt và 10 ngón tay sưng nhẹ, bệnh ho lâu ngày. Mắt và mí mắt sưng, đau cho thấy bệnh do tà khí.
Hốc mắt sâu: Mắt sâu vào trong, cho thấy tinh khí của lục phủ ngũ tạng đều bị suy nhược, bệnh tình tương đối nặng, mắt khô và sâu chứng tỏ mắt đang bị mỏi.
Mắt lờ đờ, tập trung tại một điểm chứng tỏ thần kinh có vấn đề, thần chí không bình thường.
Tuyến lệ khô, không thuận lợi về mặt con cái.
Ý nghĩa bổ sung:
Con mắt là cửa sổ của tâm hồn. Mạnh Tử nói: "Tính cách con người thể hiện qua con ngươi của mắt, mắt không thể che dấu được tật xâu của con người. Người tôt bụng thì con mắt cũng rất đoan chính, trong sáng; người không tốt thì mắt cũng không bình thường. Nghe giọng nói và nhìn vào mắt có thể biết được tính cách người đó như thế nào". Nghĩa là, trong một con người, con ngươi là nơi thể hiện khá rõ nét bản tính của con người. Tâm địa xấu xa của một người có thể che đậy bằng các hình thức khác, nhưng con mắt thì không thể che đậy được bán tính xấu xa của họ. Tính tình ngay thẳng, công minh chính trực, tốt bụng thì mắt luôn trong sáng, đoan chính. Ngược lại bụng dạ hẹp hòi, tâm địa xấu xa, luôn có âm mưu hại người thì mắt luôn đảo bên nọ liếc bên kia hoặc con ngươi lờ đờ. Nghe tiếng nói, nhìn vào mắt là có thể biết được anh ta là người như thế nào.
Từ ánh mắt có thê thấy, người nào có ánh mắt quang minh chính trực thì tinh lưc dồi dào. khoe mạnh. Người có con mắt trắng den rò ràng thường là người thòng minh, tự tin, thuản khiết, chính trực, thắng thắn, quân tư. Lòng đen và lòng trang của mắt rò ràng, mắt to và tròn, có anh măt sáng rực, cho thây người này không chỉ quang minh chính đại, chính trưc mà còn thùng minh hơn người, tư duy linh hoạt, tinh lực dối dào, khi co động lực tác động rất có thế sẽ làm lên việc lơn. Tất ca những ngưừi có đôi mắt lòng đen và lòng tráng lẫn lộn, không phân biệt rõ ràng, đục ngàu, ánh mắt đảo bên nọ, liêc bên kia hoặc ánh mắt sôi sục như một ngọn lửa hoặc sắc như mũi kim châm, thường là người bất chính, người có đôi mắt lúc nào củng lim rim hoặc mắt tham lam. mắt gian trá, xu nịnh, đen tối, mắt say lờ đờ... nếu kết giao với người này cần phải hết sức thận trong, nếu không sè bị hại.
Mắt có liên quan đến gan, gan là khí quan "Tàng thần" trong nội tạng. Khí huyết là cái gốc của cơ thể, khí huyết đầy đủ thì con người mới có tinh thần, mới có sức sống. Do đó, mắt sáng chứng tỏ khí huyết đầy đủ, thể hiện cơ thể rất khoẻ mạnh, mới có thể tinh nhanh hơn người. Nếu thường xuyên mất ngủ, thần kinh thị giác mệt mỏi, gan có vấn đề thì hốc mắt sâu, mắt khô, mắt có màu vàng, trong mắt có nhiều tia máu, hai mắt đều bị sưng chứng tỏ tuyến nước mắt có vấn đề. Vành của hai mắt thâm quầng, đây là dấu hiệu của bệnh mất ngủ. Ánh mắt ngấn nước, mí mắt sưng, trên mí mắt có nhiều nếp nhân, chưa có con nối dõi, do thận khí hư nên rất khó có con.
Do vậy, đôi mắt là khí quan truyền tải thông tinh tính cách, sắc thái của con mắt tốt hay xấu cho thấy tính cách của người đó tốt hay xâu. Hầu hết những người có đôi mắt đoan chính, lòng đen và lòng trắng rõ ràng, được coi là đôi mắt đẹp. Cũng đôi mắt đó nhưng mắt dài và sâu, ánh mắt rộng và long lanh, tinh nhanh, con ngươi đen nhánh, lòng trắng có màu của lòng trắng trứng, được gọi là mắt phượng mày ngài. Ánh mắt sáng như tia chớp thì đôi mắt càng quý. Ánh mắt dịu hiền chứng tỏ người này hiền từ, rộng lượng. Mắt sắc như dao cau thể hiện sự lanh lợi. Mắt nhỏ nhưng dài, ánh mắt sáng như ngọn đuốc cho thấy người này có tiền đồ vẻ vang.
. Mũi
Mũi được tạo thành bởi sông mũi, xoang mũi, xương mũi, lỗ mũi và cánh mũi.
* Mũi là khí quan đầu tiên trong hệ thống hô hấp, là linh mẫu của phổi. Chức năng của mũi, khí quản và phổi gặp trở ngại, khí ôxi hít vào không đủ, việc thải các khí thải và khí các-bon-nic ra khỏi cơ thể không thuận lợi, hô hấp khó khăn. Khi thiếu ôxi, hệ thống tuần hoàn máu tất sẽ bị tổn thương, lượng máu cung cấp cho tim không đủ... dẫn đến nguyên khí của cơ thể bị hư tổn nặng, nên mũi phải thông, phổi hư thì mũi đau, phổi bị viêm thì mũi tắc. Do đó mũi phải to, sống mũi cao, màu sắc của mũi phải trơn bóng. Nhìn vào mũi có thể đoán biết được tuổi thọ, phú quý, tài trí, có thể thấy được trạng thái chức năng đào thải khí độc trong cơ thể con người, độ chính xác tương đối cao. Những người có mũi trơn bóng không giàu thì sống thọ, sống mũi cao thì trường thọ, sông mũi cao, xương nhô lên càng trường thọ.
Thông thường, người có mũi cao cho thấy khả năng lẩm việc tốt, não bộ minh mẫn. Mũi thấp, khả nâng tự lập kém, mũi càng thấp thì càng sống dựa dẫm vào người khác, cũng không thông minh. Người có mũi quá gầy thường không có tiền tài. Lỗ mũi quá lộ liễu, ví dụ mũi hếch lên trên và trên mũi có nốt ruồi thì càng phá sản. Sông mũi thẳng là người lương thiện, nhân từ, phú quý. Mũi của con trai giống như mũi sư tử là người có phúc, nữ có mũi củ hành là quý nhân. Khi nhìn thẳng vào mặt không thấy lỗ mũi chứng tỏ người này luôn muốn vơ vét của cải. Đầu mũi phồng to là người không hại người khác, đầu mũi nhỏ và nhọn là người gian trá.
Mui dẹp bao gồm:
Mũi huyền đảm, đầu mũi bằng phẳng, đuôi mũi nôi liền không bị gấp khúc, cánh mũi nhỏ, sông mũi thẳng, thân hình cao lớn, được coi là mũi phú quý (Hình 25:11-(1)).
Mũi trâu: Mũi to và dầy, đuôi mũi nối liền với ấn đường (phần nằm giữa hai lông mày), cánh mũi tròn, trên sống mũi thịt không nhiều, xương không lộ, được coi là mũi phú quý nhân hoà (Hình 25:ll-(2)).
Mũi hổ: Đầu mũi to, tròn và lỗ mũi không lộ, cánh mũi nhỏ, sông mũi thẳng, đuôi mũi to, được coi là mũi đại phú quý và có uy vũ (Hình 25:11 -(3)).
Mũi sư tử: Đuôi mũi thấp, sông mũi cao, đầu mũi lớn và tròn, dài, không nhọn thường là người tinh nhanh. Nếu đỗì xử tốt với người này thì họ sẽ rất tốt, trọng nghĩa, dền đáp xứng đáng; nếu không đối xử tốt thì họ sẽ ôm hận trong lòng và tìm cách trả thù bằng được. Tuy nhiên những người này khi làm lãnh đạo thường bảo vệ cấp dưới (Hình 25:11-(4)).
Mũi rồng: Đuôi mũi thẳng giống như mũi trâu, sông mũi cao, hình vuông, thẳng, đầy đặn, đầu mũi có hình củ hành, bằng phẳng, được coi là mũi đại phú quý, tính tình ôn hoà (Hình 25:ll-(5)).
Mũi củ hành; Đuôi mũi nhỏ, sống mũi cao, thẳng, kéo dài đến ấn đường, đầu mũi hình củ hành, cánh mũi tròn, da mũi trơn nhân, nữ thì xinh xắn thông minh, phú quý, thân thiết gắn bó lâu dài với bạn bè, nhân từ. Những người có kiểu mũi này thường biết cách diều chỉnh các mối quan hệ xã hội, sống hoà thuận (Hình 25:ll-(6)).
Mũi xấu gồm ba kiểu chủ yếu như sau:
Mũi quạ: Đuôi mũi thấp, sống mũi lộ, đầu mũi nhỏ và quắp vào trong, cánh mũi ngắn và hẹp, người này thường độc ác, lòng dạ hẹp hòi, nham hiểm, đặc biệt đôi với những người mắt rắn, ti hí mắt lươn thì tính cách trên càng bộc lộ rõ hơn. Người xưa quan niệm: "Không nên kết thân với những người mắt mũi diều hâu, trong bụng của những người này luôn có ý định nham hiểm". Nghĩa là, loại người này luôn luôn tìm cách hại người khác, không thể không đề phòng (Hình 25:12-(1)).
Mũi lộ xương: Đuôi mũi nhó, hẹp, tẹt, xương sông mũi gầy và nhô lên, đầu mũi nhọn nhưng không quắp, cánh mũi ngắn, đây là hạng người hạ lưu, gian trá, đố kị với người tài, tranh quyên cố vị, lòng dạ hẹp hòi, nham hiếm, tính tình trẩm, quan hệ xã giao rất kém, dối trên lừa dưới, đùa giỡn với quyền lực, những người này nếu ánh mắt sắc nhọn, hành vi bủn xỉn thì càng nguy hiểm (Hình 25:12-(2)).
Mũi ba khúc: Đuôi mũi tẹt và nhỏ, xương mũi nhô cao, sông mũi lồi lên tạo thành gò, sau đó lại lõm xuống, đầu mũi nhô lên nhưng không cao bàng xương sông mũi, tiếp đến lại thấp xuóng tạo thành ba khúc, đây là người râ't tổì kỵ, tuyệt thế, cuôì đời sông cô độc trong căn nhà rách nát, về già không nơi nương tựa (Hình 25:12-(3)).
Ngoài ra còn có mũi bã rượu củng không tốt, người có kiểu mũi này hoặc là thô lỗ, cộc cằn hoặc khố về gìà. Tức là khi về già phải tha phương cầu thực, cuộc sống tuổi già vất vả cho đến khi chết, chết nơi đất khách quê người (Hình 25:12-(4)).
Tóm lại, đầu mũi tròn, đầy đặn thì trường thọ, xương sống mũi nhô cao thì bạc mệnh, trên mũi có nhiều đường vân ngang thì gặp nhiều tai ương, đầu mũi hơi nhọn thường là người chua ngoa, cay nghiệt, mùi dài thì trường tho.
Quan niệm của người xưa: “Lông mày cong cong, là người có nhiều anh em bạn bè; lồng mày mọc ở góc mắt là người có nhiều bạn bè tốt; lông mày ngắn là người sống cô đơn; hai lông mày sát nhau là người cố chấp, tiếu nhân; hai lông mày hướng lên trên là người cương trực; hai lông mày mọc ngược là người giảo hoạt, điêu toa; lông mày mềm rủ xuống như sợi tơ là người tham lam vô độ; lồng mày cong cong như thiên nga là người sắc nước hương trời”.
. Mắt
Mắt là cung vị của gan thận. Mắt thể hiện tinh lực, tiêu biểu cho sự nghiệp, tiêu biêu cho tâm linh.
Xét về hình dáng, mắt quý nhân gồm có: Mắt rồng, mắt phượng, mắt hô, mắt trâu, mát sư tứ, mắt voi, mắt khỉ...
Mắt rồng: To và đen, lòng đen lòng trắng rõ ràng, ánh mắt sáng như tia chớp, nhìn xa tròng rộng, khí tàng không lộ ra ngoài, vừa có uy lực vừa mềm nhưng lại vừa cương, mắt hình chữ nhật (tl). Thông minh, tháo vát nhanh nhẹn, tinh lực sung mãn, có sức hấp dẫn, tướng quý nhân (Hình 25:8-(l)).
Mát phượng: Đen trắng rõ ràng, mắt to và đen, thon dài, mắt sáng, mắt dài nhưng tròn, thông minh, hấp dẫn, tinh nhanh nâng nổ, nhiệt tình (Hình 25:8-12).
Mắt hô: Mắt to. sáng, con ngươi ngắn và tròn như mắt rồng, chì có điồu mắt không đen. tính tình cương trực, có uy lực. Người có kiêu mắt này thường là nhân vật lãnh đạo kiên cường của một cơ quan đơn vị nào đó (Hình 25:8-(3)).
Mắt sư tử. Mắt to, uy nghiêm, thường đi kèm với lông mày rậm, tính tình trung hậu không khắt khe, phú quý nhân từ (Hình 25:8-(4)).
Mắt trâu: Mắt to tròn, vuông vắn, tương đối ngắn, tướng mạo phú quý (Hình 25:8-(5)).
Mắt voi: Nhỏ và dài, nếp nhăn trên và dưới nhỏ và nhiều con agươi nhỏ, tính tình ôn hòa, mặt mũi hiền lành, tướng mạo hiền từ iHình 25:8-(6)).
Mẩt khỉ: Con ngươi đen, sóng mắt thẳng, chuyển dộng thoải mái, nước mắt chảy ròng. Người này sinh ra đã phải suy nghĩ, thông minh hơn người, sức chú ý tốt, động tác nhanh nhẹn (Hình 25:8-(7)).
Mắt người xấu gồm: Mắt rắn, mắt lợn, mắt say lờ đờ, mắt hoa đào, mắt sói, mắt dê....
Mắt rắn: Mắt hình tam giác, con ngươi vàng hoặc đen, tròn và có màu đỏ giống như hạt cát đỏ. Người xưa quan niệm: “Mắt có hình tam giác luôn tìm cách hại người”, thường là người có thân hình gầy gò (Hình 25:9-(l)).
Mắt sói: Con ngươi vàng, giống như mắt rắn nhưng dài hơn, những người có mắt sói thường tham lam, độc ác, giàu nhưng không nhân từ, có chức có quyền nhưng không chính nghĩa, người có mắt sói thường là người có thân hình gầy gò (Hình 25:9-(2)).
Mắt lợn: Mắt nhỏ, con ngươi den, mắt trắng hơi đen, nhìn không rõ, ánh mắt sắc, mắt nhắm như đang ngủ nhưng không phải là ngủ, mắt lờ đờ khi phải suy nghĩ về việc gì đó. Người này, thường béo, sáng bóng, hoặc gầy gò (Hình 25:9-(3)).
Mắt say lờ đờ, mắt hình hoa đào, mắt hạc: Kiểu mắt này có con ngươi màu vàng hoặc vàng đỏ, tụ máu, dâm loạn, giống như người say rượu, hay nhìn liếc ngang giống như người đang chạy trôn. Người này thường gian giảo, nguyên khí bị tổn thương, hoặc đầu tóc bóng lộn, mặt hoa da phấn, mỡ máu cao, nhu cầu tình dục cao, yếu đuối, thiếu tính quyết doán trong công việc (Hình 25:9-(4)).
Mắt tai họa: Người có kiểu mắt này thường rất hay gặp tai họa.
Mắt cá: Mắt giống như mắt cá chép, hai con ngươi to và lồi ra ngoài, ánh mắt lờ đờ, thần sắc đau buồn, con ngươi nổi lên và lộ ra ngoài, con ngươi hơi đỏ. Người có mắt kiểu này thường dễ tức giận, ba hoa, thô bạo, đoản thọ, cần phải nhanh chóng chữa trị (Hình 25:10-(l)).
Mắt cá sấu: Mắt nhỏ dài, con ngươi nhỏ, mắt trắng dữ tợn. Theo quan niệm của người xưa: “Mắt nhiều lòng trắng là gái sát chồng, đối với nam giới mắt nhiều lồng trắng thì đần độn”. Những người có kiểu mắt này thường bị đần độn bẩm sinh, não phát triển không hoàn thiện, thiểu năng trí tuệ. Kết giao với loại người này cần phải thận trọng (Hình 25:10-(2)).
Người xưa quan niệm: “Con ngươi đen, to và ổn định thường là người hiền hậu; phụ nữ nhìn liếc ngang liếc dọc thường là người không tốt, không trong sạch; mắt hình tam giác, lòng đen to thì tâm địa độc ác; mắt tròn, nhỏ và trơn là người sống cởi mở”. “Mắt hiền từ ắt là người lương thiện; mắt hung dữ ắt là người xấu, mắt liếc ngang liếc dọc là người luôn đô kị; mắt cận thị là người thông minh; mắt nhìn lên là người lịch sự; mắt nhìn xuống là người tâm địa hiểm ác; mắt nhìn thẳng là người chính trực, mắt nhìn thấp là người nhát gan; mắt nhìn lung tung là người nông nổi, bộp chộp; mắt luôn nhìn trộm người khác là người dâm dâng; mắt bình thường là người nhân đức, mắt nhìn xa là người hiền từ".
Hai mắt thái âm và thái dương phải có lòng trắng và lòng đen rõ ràng, lông mi dài và nhỏ, cân đốì. Mắt có lòng đen nhiều hơn lòng trắng, mắt sáng thường là người có sao âm dương chiếu mệnh, đại phú quý, xương cốt khỏe mạnh. Mắt có lòng trắng và lòng đen rõ ràng, lông mày mịn, thưa và dàí, thường là những người sống trường thọ, không có bệnh tật, cả đời sung túc phú quý. Anh mắt thần bí, mắt đong đưa, nhìn bên nọ liếc bên kia. Lông mày mịn và dài, tinh thần đao động, nhan sắc bình thường, cử chỉ đứng đắn. Khi nhìn mặt nước từ xa thấy có ánh sáng phản chiếu lên, giống như những nhành hoa đang đung đua trên mặt nước, đây là người cương nghị trong công việc, tích cực, chịu khó, giống như thả hổ về rừng.
Mắt đẹp và đoan chính, nhỏ và dài, lòng tử ổn định nhưng đong đưa, khi thì nhìn lên, lúc thì nhìn xuống, nhìn tập trung vào một vật khá lâu, cho thấy người này rất tập trung trong công việc, làm
việc quên mình. Người có mắt nhỏ nhưng không dài thường là người có vóc dáng nhỏ xinh, tính tình hiền hoà. Ngược lại người có đôi mắt dài nhưng to thường là người xấu tính, nham hiểm. Mắt đoan trang thì con người cũng đứng đắn, làm việc tự giác, chính trực, mắt đoan chính thì tâm không tà. Khi kết bạn cũng nên xem đôi mắt của họ, người có mắt liếc như dao cau thường là người không tốt, kết thân với người đó sẽ rất nguy hiểm, do đó khi kết bạn cần phải hết sức thận trọng.
. Đôi mắt thề hiện bệnh tình của lục phủ ngũ tạng
Khoé mắt trong và khoé mắt ngoài thể hiện mạch máu ở tim, do tim duy trì sự hoạt động của hệ thống tuần hoàn máu. Long nhãn của mắt tượng trưng cho gan, gan liên quan đến gân, gân khoẻ thì mắt đen. Củng mạc (ngọc trắng hoặc mắt trắng) tượng trưng cho phổi, phổi điều khiển khí, khí tốt thì con ngươi hơi trắng. Con ngươi tượng trưng cho thận, thận liên quan đến xương, tinh hoa của xương là đồng tử, mí mắt trên tượng trưng cho lá lách, lá lách liên quan đến bắp thịt, tinh hoa của bắp thịt là mí mắt trên.
Xem mắt chẩn đoán bệnh:
Lòng trắng: Nếu màu đỏ thì bệnh ở tim, màu trắng thì bệnh ở phổi, màu vàng thì bệnh ở lá lách, màu xanh thì bệnh ở gan, màu đen thì bệnh ở thận, củng mạc (lòng trắng) màu vàng thường là màu hoàng đản.
Khoé mắt: Nếu có màu đỏ là biểu hiện của bệnh tâm hoả, màu
trắng đục là biểu hiện của máu ở tim bị hư tổn, màu xanh là biểu hiện của bệnh gan.
Vành mắt: Phía trên và dưới đều có màu xanh hoặc màu tro xám, lòng trắng có nhiều tia máu (tia máu xuyên qua đồng tử), mí mắt trên hơi hồng và phù thũng, vẻ mặt mệt mỏi, cho thấy người này suy nghĩ quá nhiều, lao tâm khố tứ, mất ngủ, ngủ không đủ, suy nhược thần kinh, tinh thần buồn rầu...
Mí mắt trên: Mí mắt trên có màu đỏ và ướt là biểu hiện của bệnh liên quan đến lá lách; màu vắng đỏ là bệnh nóng trong; màu xám là biểu hiện của bệnh suy thận, màu xanh cho thấy cơ thể có chỗ bị đau, trên và dưới mí mắt đều tươi sáng là biểu hiện của bệnh hen xuyễn, phía trên mí mắt có màu xám biểu hiện của bệnh ho do đờm, phía dưới mí mắt có màu tro đen biểu hiện của bệnh do uô'ng đồ lạnh, mắt đen pha chút màu đỏ biểu hiện của bệnh hen. Mí mắt có màu tím lẫn với màu xanh cho thấy người này bị chảy máu dưới da thường là vết thương bên ngoài mắt hoặc bệnh thiếu máu...
Khoé mắt trong: ở bộ phận này của người trung niên xuất hiện vết ban màu vàng gây ra bởi hiện tượng mỡ tích tụ dưới da.
Con ngươi: Con ngươi lồi ra, cổ phù thũng, chứng tỏ cơ năng của tuyến giáp trạng có vấn đề. Con ngươi hơi lồi ra và chuyển động lên xuống chứng tỏ phổi có bệnh.
Trạng thái của mắt: Mắt mờ chứng tỏ tỳ vị suy nhược, mắt nhìn nghiêng chứng tỏ bệnh liên quan đến gan; mắt nhìn lên, mắt trợn tròn nhìn thẳng, đồng tử mắt giãn ra chứng tỏ tình trạng bệnh tật của người này hết sức nguy kịch, khó qua khỏi.
Hốc mắt đẫm nước, mí mắt trên và dưới sưng lên cho thấy tỳ vị suy nhược, sưng lá lách. Mí mắt dưới phù thũng, cho thấy bệnh suy thận khí ở người già, sau khi ngủ dậy mí mắt bị sưng cho thấy người này bị viêm thận cấp tính, mí mắt và 10 ngón tay sưng nhẹ, bệnh ho lâu ngày. Mắt và mí mắt sưng, đau cho thấy bệnh do tà khí.
Hốc mắt sâu: Mắt sâu vào trong, cho thấy tinh khí của lục phủ ngũ tạng đều bị suy nhược, bệnh tình tương đối nặng, mắt khô và sâu chứng tỏ mắt đang bị mỏi.
Mắt lờ đờ, tập trung tại một điểm chứng tỏ thần kinh có vấn đề, thần chí không bình thường.
Tuyến lệ khô, không thuận lợi về mặt con cái.
Ý nghĩa bổ sung:
Con mắt là cửa sổ của tâm hồn. Mạnh Tử nói: "Tính cách con người thể hiện qua con ngươi của mắt, mắt không thể che dấu được tật xâu của con người. Người tôt bụng thì con mắt cũng rất đoan chính, trong sáng; người không tốt thì mắt cũng không bình thường. Nghe giọng nói và nhìn vào mắt có thể biết được tính cách người đó như thế nào". Nghĩa là, trong một con người, con ngươi là nơi thể hiện khá rõ nét bản tính của con người. Tâm địa xấu xa của một người có thể che đậy bằng các hình thức khác, nhưng con mắt thì không thể che đậy được bán tính xấu xa của họ. Tính tình ngay thẳng, công minh chính trực, tốt bụng thì mắt luôn trong sáng, đoan chính. Ngược lại bụng dạ hẹp hòi, tâm địa xấu xa, luôn có âm mưu hại người thì mắt luôn đảo bên nọ liếc bên kia hoặc con ngươi lờ đờ. Nghe tiếng nói, nhìn vào mắt là có thể biết được anh ta là người như thế nào.
Từ ánh mắt có thê thấy, người nào có ánh mắt quang minh chính trực thì tinh lưc dồi dào. khoe mạnh. Người có con mắt trắng den rò ràng thường là người thòng minh, tự tin, thuản khiết, chính trực, thắng thắn, quân tư. Lòng đen và lòng trang của mắt rò ràng, mắt to và tròn, có anh măt sáng rực, cho thây người này không chỉ quang minh chính đại, chính trưc mà còn thùng minh hơn người, tư duy linh hoạt, tinh lực dối dào, khi co động lực tác động rất có thế sẽ làm lên việc lơn. Tất ca những ngưừi có đôi mắt lòng đen và lòng tráng lẫn lộn, không phân biệt rõ ràng, đục ngàu, ánh mắt đảo bên nọ, liêc bên kia hoặc ánh mắt sôi sục như một ngọn lửa hoặc sắc như mũi kim châm, thường là người bất chính, người có đôi mắt lúc nào củng lim rim hoặc mắt tham lam. mắt gian trá, xu nịnh, đen tối, mắt say lờ đờ... nếu kết giao với người này cần phải hết sức thận trong, nếu không sè bị hại.
Mắt có liên quan đến gan, gan là khí quan "Tàng thần" trong nội tạng. Khí huyết là cái gốc của cơ thể, khí huyết đầy đủ thì con người mới có tinh thần, mới có sức sống. Do đó, mắt sáng chứng tỏ khí huyết đầy đủ, thể hiện cơ thể rất khoẻ mạnh, mới có thể tinh nhanh hơn người. Nếu thường xuyên mất ngủ, thần kinh thị giác mệt mỏi, gan có vấn đề thì hốc mắt sâu, mắt khô, mắt có màu vàng, trong mắt có nhiều tia máu, hai mắt đều bị sưng chứng tỏ tuyến nước mắt có vấn đề. Vành của hai mắt thâm quầng, đây là dấu hiệu của bệnh mất ngủ. Ánh mắt ngấn nước, mí mắt sưng, trên mí mắt có nhiều nếp nhân, chưa có con nối dõi, do thận khí hư nên rất khó có con.
Do vậy, đôi mắt là khí quan truyền tải thông tinh tính cách, sắc thái của con mắt tốt hay xấu cho thấy tính cách của người đó tốt hay xâu. Hầu hết những người có đôi mắt đoan chính, lòng đen và lòng trắng rõ ràng, được coi là đôi mắt đẹp. Cũng đôi mắt đó nhưng mắt dài và sâu, ánh mắt rộng và long lanh, tinh nhanh, con ngươi đen nhánh, lòng trắng có màu của lòng trắng trứng, được gọi là mắt phượng mày ngài. Ánh mắt sáng như tia chớp thì đôi mắt càng quý. Ánh mắt dịu hiền chứng tỏ người này hiền từ, rộng lượng. Mắt sắc như dao cau thể hiện sự lanh lợi. Mắt nhỏ nhưng dài, ánh mắt sáng như ngọn đuốc cho thấy người này có tiền đồ vẻ vang.
. Mũi
Mũi được tạo thành bởi sông mũi, xoang mũi, xương mũi, lỗ mũi và cánh mũi.
* Mũi là khí quan đầu tiên trong hệ thống hô hấp, là linh mẫu của phổi. Chức năng của mũi, khí quản và phổi gặp trở ngại, khí ôxi hít vào không đủ, việc thải các khí thải và khí các-bon-nic ra khỏi cơ thể không thuận lợi, hô hấp khó khăn. Khi thiếu ôxi, hệ thống tuần hoàn máu tất sẽ bị tổn thương, lượng máu cung cấp cho tim không đủ... dẫn đến nguyên khí của cơ thể bị hư tổn nặng, nên mũi phải thông, phổi hư thì mũi đau, phổi bị viêm thì mũi tắc. Do đó mũi phải to, sống mũi cao, màu sắc của mũi phải trơn bóng. Nhìn vào mũi có thể đoán biết được tuổi thọ, phú quý, tài trí, có thể thấy được trạng thái chức năng đào thải khí độc trong cơ thể con người, độ chính xác tương đối cao. Những người có mũi trơn bóng không giàu thì sống thọ, sống mũi cao thì trường thọ, sông mũi cao, xương nhô lên càng trường thọ.
Thông thường, người có mũi cao cho thấy khả năng lẩm việc tốt, não bộ minh mẫn. Mũi thấp, khả nâng tự lập kém, mũi càng thấp thì càng sống dựa dẫm vào người khác, cũng không thông minh. Người có mũi quá gầy thường không có tiền tài. Lỗ mũi quá lộ liễu, ví dụ mũi hếch lên trên và trên mũi có nốt ruồi thì càng phá sản. Sông mũi thẳng là người lương thiện, nhân từ, phú quý. Mũi của con trai giống như mũi sư tử là người có phúc, nữ có mũi củ hành là quý nhân. Khi nhìn thẳng vào mặt không thấy lỗ mũi chứng tỏ người này luôn muốn vơ vét của cải. Đầu mũi phồng to là người không hại người khác, đầu mũi nhỏ và nhọn là người gian trá.
Mui dẹp bao gồm:
Mũi huyền đảm, đầu mũi bằng phẳng, đuôi mũi nôi liền không bị gấp khúc, cánh mũi nhỏ, sông mũi thẳng, thân hình cao lớn, được coi là mũi phú quý (Hình 25:11-(1)).
Mũi trâu: Mũi to và dầy, đuôi mũi nối liền với ấn đường (phần nằm giữa hai lông mày), cánh mũi tròn, trên sống mũi thịt không nhiều, xương không lộ, được coi là mũi phú quý nhân hoà (Hình 25:ll-(2)).
Mũi hổ: Đầu mũi to, tròn và lỗ mũi không lộ, cánh mũi nhỏ, sông mũi thẳng, đuôi mũi to, được coi là mũi đại phú quý và có uy vũ (Hình 25:11 -(3)).
Mũi sư tử: Đuôi mũi thấp, sông mũi cao, đầu mũi lớn và tròn, dài, không nhọn thường là người tinh nhanh. Nếu đỗì xử tốt với người này thì họ sẽ rất tốt, trọng nghĩa, dền đáp xứng đáng; nếu không đối xử tốt thì họ sẽ ôm hận trong lòng và tìm cách trả thù bằng được. Tuy nhiên những người này khi làm lãnh đạo thường bảo vệ cấp dưới (Hình 25:11-(4)).
Mũi rồng: Đuôi mũi thẳng giống như mũi trâu, sông mũi cao, hình vuông, thẳng, đầy đặn, đầu mũi có hình củ hành, bằng phẳng, được coi là mũi đại phú quý, tính tình ôn hoà (Hình 25:ll-(5)).
Mũi củ hành; Đuôi mũi nhỏ, sống mũi cao, thẳng, kéo dài đến ấn đường, đầu mũi hình củ hành, cánh mũi tròn, da mũi trơn nhân, nữ thì xinh xắn thông minh, phú quý, thân thiết gắn bó lâu dài với bạn bè, nhân từ. Những người có kiểu mũi này thường biết cách diều chỉnh các mối quan hệ xã hội, sống hoà thuận (Hình 25:ll-(6)).
Mũi xấu gồm ba kiểu chủ yếu như sau:
Mũi quạ: Đuôi mũi thấp, sống mũi lộ, đầu mũi nhỏ và quắp vào trong, cánh mũi ngắn và hẹp, người này thường độc ác, lòng dạ hẹp hòi, nham hiểm, đặc biệt đôi với những người mắt rắn, ti hí mắt lươn thì tính cách trên càng bộc lộ rõ hơn. Người xưa quan niệm: "Không nên kết thân với những người mắt mũi diều hâu, trong bụng của những người này luôn có ý định nham hiểm". Nghĩa là, loại người này luôn luôn tìm cách hại người khác, không thể không đề phòng (Hình 25:12-(1)).
Mũi lộ xương: Đuôi mũi nhó, hẹp, tẹt, xương sông mũi gầy và nhô lên, đầu mũi nhọn nhưng không quắp, cánh mũi ngắn, đây là hạng người hạ lưu, gian trá, đố kị với người tài, tranh quyên cố vị, lòng dạ hẹp hòi, nham hiếm, tính tình trẩm, quan hệ xã giao rất kém, dối trên lừa dưới, đùa giỡn với quyền lực, những người này nếu ánh mắt sắc nhọn, hành vi bủn xỉn thì càng nguy hiểm (Hình 25:12-(2)).
Mũi ba khúc: Đuôi mũi tẹt và nhỏ, xương mũi nhô cao, sông mũi lồi lên tạo thành gò, sau đó lại lõm xuống, đầu mũi nhô lên nhưng không cao bàng xương sông mũi, tiếp đến lại thấp xuóng tạo thành ba khúc, đây là người râ't tổì kỵ, tuyệt thế, cuôì đời sông cô độc trong căn nhà rách nát, về già không nơi nương tựa (Hình 25:12-(3)).
Ngoài ra còn có mũi bã rượu củng không tốt, người có kiểu mũi này hoặc là thô lỗ, cộc cằn hoặc khố về gìà. Tức là khi về già phải tha phương cầu thực, cuộc sống tuổi già vất vả cho đến khi chết, chết nơi đất khách quê người (Hình 25:12-(4)).
Tóm lại, đầu mũi tròn, đầy đặn thì trường thọ, xương sống mũi nhô cao thì bạc mệnh, trên mũi có nhiều đường vân ngang thì gặp nhiều tai ương, đầu mũi hơi nhọn thường là người chua ngoa, cay nghiệt, mùi dài thì trường tho.
. Miệng
Miệng là cung vị cua tỳ vị. Miệng dùng đê nói và ăn, là noi nạp chất dinh dưỡng và cũng là nơi gây nên chuyện lôi thôi. Người xưa có câu: "Bệnh tư miệng mà vào. hoạ từ miệng mà ra". Miệng tượng trưng cho tính tình, cơ bion. (aí ăn noi.
Người có mòi rát móng thường là người có tài hùng biện, nói nhiều nhưng giọng điệu không tót, đòi khi trờ nên chua ngoa cav nghiệt. Người có môi dầy, thế hiện kém thông minh. Mòi dấy, trung hậu, thật thà, gián dị. Mòi trên móng, môi dưới dầy, trung chính ôn hoà Miệng to nói nhiều, tương đối tháng thắn nhưng cũng ràt cói í lơ. hướng ngoai Mièng to môi dầy. ác khâu nhưng tôt bụng. Miệng rộng X11O.Ì mong, chích noi cnuyẹu un én h.ó. M:"ng nhỏ như quả anh đào, cá tính tương đối chặt chẽ, hướng nội, năng lực thực tế kém. Miệng hẹp, mép trễ xuống, lòng dạ nham hiểm, tính tình hung ac. Môi dầy, răng to ăn nói vụng về. Miệng rộng tham ăn, cả nam và nữ đều như vậy. Hai đường vân ở mép chạy xung quanh miệng tạo thành nèp nhăn khi nhai, là dâu hiệu biểu hiện cua tai hoạ tù tội, có nguy cơ bị chết đói. Miệng trễ ớ hai bên mép, cầu kỳ trong cách ăn mặc, Mép bên cao bên thấp là người gian trá. lừa lọc. Mép nhếch lên trên, lạc quan tự tại. Miệng như đá đó, cuộc Sống lúc giàu lúc nghèo. Lười to, miệng nhỏ, lưỡi thò ra ngoài, thường là người đần độn. Lười to, miệng nhỏ thường là người nghèo khố. Người giàu có môi rất hồng, người nghèo môi xanh. Môi nhọ và mỏng luôn tlnch bàn tán về người khác, chọc gậy bánh xe.
Khi kết bạn nên chọn người có môi dầy, không nén chon kết bạn với những người môi móng; môi có góc cạnh, đường viồn rò ràng, rất có duyên. Môi có góc cạnh thường là người thông minh, tài giói, ãn nói trôi chảy, tư duy nhanh nhẹn, giỏi xã giao. Những người có môi ngắn, nhỏ và tròn thường là người trung hậu, linh tính không tốt, khả năng biểu đạt ngôn ngữ kém, ăn nói vụng về, thiếu khá năng hoạt động thực tế, những lúc quan trọng thì không nói được.
. Mật mã sinh mệnh thể hiện trên lưỡi
Lưỡi thường gồm hai bộ phận chính là chất lưỡi và bựa lưỡi. Thông thường sự biến đổi của khí huyết (bao gồm hệ thống tuần hoàn máu, hệ thống thần kinh) chủ yếu phản ánh trên lưỡi, sự biến đổi của ruột và dạ dày (hệ thôhg tiêu hoá) chủ yếu phản ánh ớ bựa lưỡi.
VỊ trí tương ứng của lục phù ngũ tạng ở lưỡi:
Toàn bộ lưỡi tượng trưng cho dạ dày, vị trí trung tâm lưỡi tượng trưng cho dạ dày, đầu lười tượng trưng cho tim, đuôi lưỡi tượng trưng cho thận, hai bên lưỡi tượng trưng cho gan mật; bốn múi tượng trưng cho lá lách,
Đầu lưỡi tượng trưng cho thượng vị; giữa lười tượng trưng cho trung vị; đuôi lưỡi tượng trưng hạ vị.
Đầu lưỡi phản ánh bệnh ở tim và phổi; giữa lười phán ánh bệnh ở tỳ vị; đuôi lưỡi phản ánh bệnh ở thận; hai bên lưỡi phản ánh bệnh ở gan mật. Hiện tại trong phương pháp chẩn đoán bệnh qua lưỡi thường SƯ dụng các dấu hiệu ở mục (3).
Đoán bệnh và tính cách qua lưỡi:
(1) Thông thường một người khoẻ mạnh thì chât lưỡi (bao gom màu sắc của lưỡi, hình dáng của lưỡi và cử động của lưỡi) màu đỏ nhạt (tuy nhiên đôi khi người bị cảm hoặc bị viêm hệ thống đường hô hấp ở giai đoạn đầu thì lưỡi cũng có màu đỏ nhạt). Lưỡi trắng bạch chứng tỏ người này bị hư hàn, dương khí không đủ, thiếu vita- min B; lưỡi đỏ rực chứng tỏ cơ thể bị nhiệt, đầy hơi, kém ăn, thiếu Vitamin B2; lưỡi màu đỏ thâm thường là dấu hiệu của hiện tượng cơ thể bị nhiệt, nhiệt chạy vào máu gây sốt cao, nhiễm trùng máu, hoặc các bệnh truyền nhiễm cấp tính...và cho thấy bệnh đang ở vào giai đoạn trầm trọng.
Lưỡi đỏ, khô và không có bựa lưỡi chứng tỏ âm khí của thận và dạ dày suy nhược, tân dịch hao tổn; lưỡi đỏ, gầy và nhỏ là dấu hiệu của hiện thượng cơ thể bị nhiệt dẫn đến mất nước, thiếu vitamin, âm suy, nóng trong. Lười màu tím xanh là dấu hiệu của bệnh huyết hàn, âm suy, cho thấy chức nàng của hệ thống tuần hoàn máu trong cơ thể bị suy nhược hoặc suy nhược cơ thể. Lưỡi có màu xanh tím, khô, ít nước thường là dấu hiệu của bệnh phong thấp, của tim và thận suy khí, thường thấy ở những người có chức năng của tim và phổi không hoàn thiện. Lưỡi thâm môi xanh, cho thấy thiếu ôxi, tĩnh mạch bị ứ máu, hệ thống hô hấp và tuần hoàn máu suy nhược. Lư&i đỏ tím dấu hiệu của bệnh sơ gan, bệnh tim, ung thư.
Hình dáng của lưỡi chia thành: già non; béo gầy; lưỡi đỏ rực như có lửa đốt, lưỡi hình mai rùa.
Lưỡi khô, không có nước thường thuộc kiểu lưỡi già, dù là màu đỏ, trắng, vàng, màu tro, màu đen... đều là dấu hiệu của bệnh. Lưỡi đầy đặn, nhiều nước gọi là lưỡi non hoặc xung quanh lưỡi có dấu vết răng dù bựa lưỡi có màu gì thì đều là biểu hiện của khí hư (theo cách gọi của Đông y). Trên mặt lưỡi thông thường trơn nhân, không có vết lồi lõm, nếu xuất hiện các vết lồi lõm thường ở giữa và đuôi lưỡi đều là dấu hiệu của hiện tượng nóng trong. Đầu lười xuất hiện các đốm màu đỏ như lửa đốt chứng tỏ tỳ vị đang bị nhiệt. Lưỡi có nhiều đốm lửa xuất hiện trên mặt lưỡi với mật độ cao cho thấy bệnh viêm phổi nặng, sốt cao, nhiệt chạy vào tim.
Lưỡi bình thường không có vết nứt, do đó khi trên mặt lưsi xuất hiện nhiều vết nứt sâu như những vết nứt trên mai rùa, chứng tỏ trong cơ thể nhiệt rất cao hoặc huyết hư, âm suy. Thường thấy ở những người thiếu vitamin B, vitamin c, vitamin E. Lưỡi vàng và có nhiều vết nứt chứng tổ dạ dày đang bị nhiệt, khó tiêu, tích nước, đường ruột bị nhiệt, kiết lị, trướng bụng. Lưỡi có màu đỏ và nhiều vết nứt chứng tỏ trong người dương thịnh âm suy, âm khí bị tổn thương. Lưỡi trắng bạch, non nớt và có nhiều vết nứt chứng tỏ âm khí ở thận không đủ dẫn đến chứng hư.
Lưỡi đỏ, sưng to cho thấy tim và lá lách bị nhiệt. Lưỡi sưng, nước nhiều và đọng lại trên mặt lưỡi, cho thấy dương khí ở lá lách và thận bị suy, thường thấy ở những bệnh nhân phong thấp, cảm lạnh, viêm thận mãn tính; lưỡi đày đặn, đỏ và có nhiều vết ràng xung quanh lưỡi, cho thấy lá lách bị suy khí, đờm nhiều, huyết hư, thường thấy ở những người bị bệnh mãn tính ở hệ thống tiêu hoá và hệ thống hô hấp, lười mỏng, hẹp, dài là lưỡi gầy. Lưỡi gầy trắng, tim, tỳ, thận, phổi đều hư; lưỡi gầy, đỏ nhạt cho thấy sương khí của tim, lá lách đều hư, khí huyết không đủ; lưỡi gầy và đỏ thầm tân dịch bị tổn thương cùng với những vết loét, âm suy nhiệt thịnh, bệnh rất nghiêm trọng. Luữi khô, xám đều là dấu hiệu của bệnh nặng.
Khi lè lưỡi ra, mặt lưỡi trắng bạch cho thấy chức năng của hệ thống thần kinh bị suy nhược. Lưỡi cứng là dấu hiệu của hiện tượng vỡ mạch máu não; lưỡi nhọn, trắng là dấu hiệu của hiện tượng trúng gió.
(2) Bựa lưỡi (bao gồm chất và màu sắc của bựa lưỡi) là một lớp bột trên niêm mạc bề mặt của lưỡi. Bựa lưỡi bình thường phải mỏng và phân bô đều trôn mặt lưỡi, ở giữa lưỡi hơi dầy, ướt và có màu hồng nhạt.
Bựa lưới mỏng là biếu hiện giai đoạn đầu của bệnh; bựa lưỡi dầy cho thay bệnh tương đôi nặng, chức năng dạ dày và ruột đều gặp trở ngại hoặc có đờm. Bựa lưỡi khô cho thấy tân dịch bị tổn thương, nóng trong, sôt cao hao tôn dịch, âm suy, tân dịch không đủ, cần phải uống nhiều nước để bó sung. Bựa lư&i chứa nhiều nước gọi là bựa nước trơn, cho các cơ quan nội tạng quá lạnh, trúng gió, ướt và họng có đờm... Bựa lưỡi có dạng bột mịn pha lẫn với dầu phân bô' dày đặc trên mặt lư&i. cho thấy thức ăn khó tiêu, chức năng tiêu hoá kém.
Bựa lưỡi trắng cho thấy bệnh tình nhẹ, chủ yếu là do cảm lạnh, dị ứng ngoài da, chứng hàn. Bựa lưỡi trơn, mỏng và trắng là dấu hiệu của bệnh phong thấp, cảm lạnh. Bựa lư&i dầy và trắng chứng tó trong cơ thể có đờm, phổi bị suy nhược, cảm phong hàn, dẫn đến đừơng hô hấp bị viêm nhiễm, viêm phế quản cấp tính và mãn tính, khó thở. Bựa lưỡi trắng, khô và mịn, chứng tỏ trong người có chỗ bị loét, địch phổi bị tổn thương, nhiệt lượng mất cân bằng, dịch trong cơ thể bài tiết không đều, cơ thể nóng trong có chỗ bị viêm nhiễm.
Bựa lưỡi màu vàng cho thấy bệnh tình trong người rất nặng, nhiệt lượng trong cơ thể tăng mạnh, dấu hiệu của chứng nhiệt, tà khí nhiều, dương thịnh âm suy, dấu hiệu của bệnh viêm dạ dày. Bựa lưỡi vàng dấu hiệu của bệnh nóng trong, bựa lưỡi màu vàng thẩm nhiệt lượng trong người càng tăng, bựa lười màu thổ hoàng nhiệt lượng trong người đạt mức cực điểm gây ra hiện tượng kiết 1Ị. Bựa lưỡi máu trắng chuyển sang màu vàng, trơn, cho thấy phong đã chuyển thành nhiệt, bệnh vẫn chưa làm hao tổn tân dịch trong cơ thể. Bựa lưỡi vàng, dầy và trơn, dạ dày bị đau do nhiệt (trên hai bàn tay và dưới da xuất hiện nhiều nốt ban đỏ trắng). Bựa lưỡi mịn và vàng cho thây nhiệt tập trung nhiều ồ trung tiêu (đoạn giữa dạ dày, theo cách gọi của Đông y), phổi, ho do đờm, viêm phổi, viêm phế quán, tiêu hoá không tốt, ăn không ngon... Bựa lưỡi vàng, dầy, khô dạ dày bị nhiệt làm hao tổn tân dịch. Bựa lưỡi vàng và nhạt, lưỡi đầy đặn và non, xung quanh lưỡi có nhiều vết răng cho thấy tỳ vị suy nhược, phù thùng. Bựa lưỡi có màu tro chứng tỏ bệnh đã nhiễm vào máu dần đến khí huyết bị hư tổn. Bựa lưỡi đen bệnh tình nguy kịch, cơ thê mất nước trầm trọng, nhiệt tăng, tân dịch khô cạn hoặc dương quá thịnh âm quá suy, tâm lực suy nhược.
. Mật mã sinh mệnh thể hiện ở tai
Tai là nơi thể hiện rất rõ bệnh tình cua cơ thể và lục phủ ngũ tạng. Dái tai tượng trung cho phần đầu; vành tai tượng trưng cho tứ chi; ốc nhĩ tượng trưng cho chức nàng của các khí quan nội tạng trong lồng ngực. Do đó, khi xem tai có thề nắm được toàn bộ thông tin sinh mệnh của con người. Dái tai có nếp nhăn là dấu hiệu rõ nét cho thấy bệnh tình ở hệ thống mạch máu não và tim. Đây là dấu hiệu của các bệnh tổn thương bất ngờ hoặc đau đầu, chóng mặt do mỡ máu cao, bệnh tim, cao huyết áp, thiên đầu thống, tắc mạch máu não và tim, tụ máu não, lượng máu cung cấp cho tim không đủ...gây ra. Khi xuất hiện triệu chứng bất ngờ, theo cách nói dân gian gọi là "phá sản" nên nếp nhăn này có tên là "Nếp nhăn phá sản".
Dái tai phản ánh trạng thái chức năng của các khí quan trên đầu, do đó người có dái tai dầy và. to, chỉ số IQ cao, đầu óc thông minh, tinh lực dồi dào, là dấu hiệu của sự khoẻ mạnh. Toàn bộ tai có liên quan đến thận và tuỷ sống. Trong đó thận có quan hệ mật thiết với chức năng sinh dục, thể hiện trạng thái khả năng tình dục. Do đó, vành tai to hay nhỏ, dầy hay mỏng thể hiện khả năng quan hệ tình dục mạnh hay yếu. Người có tai nhỏ, không có dái tai, tai mỏng thường là người bạc tình, tự ti, chuyên quyền, lạnh nhạt, đặc biệt đối với những người lông mày thua và nhạt thì biểu hiện trên càng rõ nét hơn, gia đình không hoà thuận. Tai rắn chắc, chức năng của thận tốt, gân cốt cũng cứng chắc. Ngoài ra, tai còn tượng trưng cho tử cung. Trong y học phương Đông, tai là một thế giới độc lập, một vũ trụ nhỏ, có nhĩ chẩn, nhĩ châm, huyệt đạo, từ đó có thể điều trị được các loại bệnh ở toàn thân.
Trong quá trình giải phẫu thi thể, các chuyên gia y học người Mỹ đã nhiều lần phát hiện thấy, tất cả những bệnh nhân chết vì bệnh sơ cứng động mạch, thì trên dái tai của họ đều có một nếp nhăn. Sau khi tiến hành nghiên cứu tương đối kỹ, các nhà khoa học phát hiện thấy, trong số những người có nếp nhăn ở dái tai thì có tới 90% số người mắc bệnh tim; trong số 11 ví dụ bệnh nhân không có nếp nhăn trên dái tai, có tới 10 ví dụ có động mạch bình thường. Đồng thời, tiến hành kiểm tra dái tai của một nhóm 121 ví dụ được chẩn đoán chắc chắn là bị bệnh tim, thì có tới 120 ví dụ có nếp nhăn.
Nếp nhăn trên dái tai là chỉ nếp nhăn hình dây xích sâu và chếch lên trên ở hai dái tai, nếp nhăn đó hầu hết bắt đầu từ cửa tai nghiêng về phía sau cho đên đường viền bên ngoài của dái tai, đa số là hình đường thẳng đơn (những nếp nhăn ngắn và không có hình dây xích thì không thuộc phạm vi này). Dái tai được tạo thành bởi tổ chức giống như tổ ong, không có xương, không có dây chằng và thịt, chất dinh dưỡng nuôi dái tai do động mạch phía sau tai cung cấp. Người mắc bệnh tim do độ kết dính trong máu tăng và động lực cửa mạch máu thay đổi nên rất dễ dẫn đến lượng máu cung cấp cho tổ chức dái tai không đủ, dái tai co lại, tạo thành nếp nhăn trên dái tai. Nếp nhăn trên dái tai cũng là dấu hiệu giúp phát hiện sớm bệnh tim.

Miệng là cung vị cua tỳ vị. Miệng dùng đê nói và ăn, là noi nạp chất dinh dưỡng và cũng là nơi gây nên chuyện lôi thôi. Người xưa có câu: "Bệnh tư miệng mà vào. hoạ từ miệng mà ra". Miệng tượng trưng cho tính tình, cơ bion. (aí ăn noi.
Người có mòi rát móng thường là người có tài hùng biện, nói nhiều nhưng giọng điệu không tót, đòi khi trờ nên chua ngoa cav nghiệt. Người có môi dầy, thế hiện kém thông minh. Mòi dấy, trung hậu, thật thà, gián dị. Mòi trên móng, môi dưới dầy, trung chính ôn hoà Miệng to nói nhiều, tương đối tháng thắn nhưng cũng ràt cói í lơ. hướng ngoai Mièng to môi dầy. ác khâu nhưng tôt bụng. Miệng rộng X11O.Ì mong, chích noi cnuyẹu un én h.ó. M:"ng nhỏ như quả anh đào, cá tính tương đối chặt chẽ, hướng nội, năng lực thực tế kém. Miệng hẹp, mép trễ xuống, lòng dạ nham hiểm, tính tình hung ac. Môi dầy, răng to ăn nói vụng về. Miệng rộng tham ăn, cả nam và nữ đều như vậy. Hai đường vân ở mép chạy xung quanh miệng tạo thành nèp nhăn khi nhai, là dâu hiệu biểu hiện cua tai hoạ tù tội, có nguy cơ bị chết đói. Miệng trễ ớ hai bên mép, cầu kỳ trong cách ăn mặc, Mép bên cao bên thấp là người gian trá. lừa lọc. Mép nhếch lên trên, lạc quan tự tại. Miệng như đá đó, cuộc Sống lúc giàu lúc nghèo. Lười to, miệng nhỏ, lưỡi thò ra ngoài, thường là người đần độn. Lười to, miệng nhỏ thường là người nghèo khố. Người giàu có môi rất hồng, người nghèo môi xanh. Môi nhọ và mỏng luôn tlnch bàn tán về người khác, chọc gậy bánh xe.
Khi kết bạn nên chọn người có môi dầy, không nén chon kết bạn với những người môi móng; môi có góc cạnh, đường viồn rò ràng, rất có duyên. Môi có góc cạnh thường là người thông minh, tài giói, ãn nói trôi chảy, tư duy nhanh nhẹn, giỏi xã giao. Những người có môi ngắn, nhỏ và tròn thường là người trung hậu, linh tính không tốt, khả năng biểu đạt ngôn ngữ kém, ăn nói vụng về, thiếu khá năng hoạt động thực tế, những lúc quan trọng thì không nói được.
. Mật mã sinh mệnh thể hiện trên lưỡi
Lưỡi thường gồm hai bộ phận chính là chất lưỡi và bựa lưỡi. Thông thường sự biến đổi của khí huyết (bao gồm hệ thống tuần hoàn máu, hệ thống thần kinh) chủ yếu phản ánh trên lưỡi, sự biến đổi của ruột và dạ dày (hệ thôhg tiêu hoá) chủ yếu phản ánh ớ bựa lưỡi.
VỊ trí tương ứng của lục phù ngũ tạng ở lưỡi:
Toàn bộ lưỡi tượng trưng cho dạ dày, vị trí trung tâm lưỡi tượng trưng cho dạ dày, đầu lười tượng trưng cho tim, đuôi lưỡi tượng trưng cho thận, hai bên lưỡi tượng trưng cho gan mật; bốn múi tượng trưng cho lá lách,
Đầu lưỡi tượng trưng cho thượng vị; giữa lười tượng trưng cho trung vị; đuôi lưỡi tượng trưng hạ vị.
Đầu lưỡi phản ánh bệnh ở tim và phổi; giữa lười phán ánh bệnh ở tỳ vị; đuôi lưỡi phản ánh bệnh ở thận; hai bên lưỡi phản ánh bệnh ở gan mật. Hiện tại trong phương pháp chẩn đoán bệnh qua lưỡi thường SƯ dụng các dấu hiệu ở mục (3).
Đoán bệnh và tính cách qua lưỡi:
(1) Thông thường một người khoẻ mạnh thì chât lưỡi (bao gom màu sắc của lưỡi, hình dáng của lưỡi và cử động của lưỡi) màu đỏ nhạt (tuy nhiên đôi khi người bị cảm hoặc bị viêm hệ thống đường hô hấp ở giai đoạn đầu thì lưỡi cũng có màu đỏ nhạt). Lưỡi trắng bạch chứng tỏ người này bị hư hàn, dương khí không đủ, thiếu vita- min B; lưỡi đỏ rực chứng tỏ cơ thể bị nhiệt, đầy hơi, kém ăn, thiếu Vitamin B2; lưỡi màu đỏ thâm thường là dấu hiệu của hiện tượng cơ thể bị nhiệt, nhiệt chạy vào máu gây sốt cao, nhiễm trùng máu, hoặc các bệnh truyền nhiễm cấp tính...và cho thấy bệnh đang ở vào giai đoạn trầm trọng.
Lưỡi đỏ, khô và không có bựa lưỡi chứng tỏ âm khí của thận và dạ dày suy nhược, tân dịch hao tổn; lưỡi đỏ, gầy và nhỏ là dấu hiệu của hiện thượng cơ thể bị nhiệt dẫn đến mất nước, thiếu vitamin, âm suy, nóng trong. Lười màu tím xanh là dấu hiệu của bệnh huyết hàn, âm suy, cho thấy chức nàng của hệ thống tuần hoàn máu trong cơ thể bị suy nhược hoặc suy nhược cơ thể. Lưỡi có màu xanh tím, khô, ít nước thường là dấu hiệu của bệnh phong thấp, của tim và thận suy khí, thường thấy ở những người có chức năng của tim và phổi không hoàn thiện. Lưỡi thâm môi xanh, cho thấy thiếu ôxi, tĩnh mạch bị ứ máu, hệ thống hô hấp và tuần hoàn máu suy nhược. Lư&i đỏ tím dấu hiệu của bệnh sơ gan, bệnh tim, ung thư.
Hình dáng của lưỡi chia thành: già non; béo gầy; lưỡi đỏ rực như có lửa đốt, lưỡi hình mai rùa.
Lưỡi khô, không có nước thường thuộc kiểu lưỡi già, dù là màu đỏ, trắng, vàng, màu tro, màu đen... đều là dấu hiệu của bệnh. Lưỡi đầy đặn, nhiều nước gọi là lưỡi non hoặc xung quanh lưỡi có dấu vết răng dù bựa lưỡi có màu gì thì đều là biểu hiện của khí hư (theo cách gọi của Đông y). Trên mặt lưỡi thông thường trơn nhân, không có vết lồi lõm, nếu xuất hiện các vết lồi lõm thường ở giữa và đuôi lưỡi đều là dấu hiệu của hiện tượng nóng trong. Đầu lười xuất hiện các đốm màu đỏ như lửa đốt chứng tỏ tỳ vị đang bị nhiệt. Lưỡi có nhiều đốm lửa xuất hiện trên mặt lưỡi với mật độ cao cho thấy bệnh viêm phổi nặng, sốt cao, nhiệt chạy vào tim.
Lưỡi bình thường không có vết nứt, do đó khi trên mặt lưsi xuất hiện nhiều vết nứt sâu như những vết nứt trên mai rùa, chứng tỏ trong cơ thể nhiệt rất cao hoặc huyết hư, âm suy. Thường thấy ở những người thiếu vitamin B, vitamin c, vitamin E. Lưỡi vàng và có nhiều vết nứt chứng tổ dạ dày đang bị nhiệt, khó tiêu, tích nước, đường ruột bị nhiệt, kiết lị, trướng bụng. Lưỡi có màu đỏ và nhiều vết nứt chứng tỏ trong người dương thịnh âm suy, âm khí bị tổn thương. Lưỡi trắng bạch, non nớt và có nhiều vết nứt chứng tỏ âm khí ở thận không đủ dẫn đến chứng hư.
Lưỡi đỏ, sưng to cho thấy tim và lá lách bị nhiệt. Lưỡi sưng, nước nhiều và đọng lại trên mặt lưỡi, cho thấy dương khí ở lá lách và thận bị suy, thường thấy ở những bệnh nhân phong thấp, cảm lạnh, viêm thận mãn tính; lưỡi đày đặn, đỏ và có nhiều vết ràng xung quanh lưỡi, cho thấy lá lách bị suy khí, đờm nhiều, huyết hư, thường thấy ở những người bị bệnh mãn tính ở hệ thống tiêu hoá và hệ thống hô hấp, lười mỏng, hẹp, dài là lưỡi gầy. Lưỡi gầy trắng, tim, tỳ, thận, phổi đều hư; lưỡi gầy, đỏ nhạt cho thấy sương khí của tim, lá lách đều hư, khí huyết không đủ; lưỡi gầy và đỏ thầm tân dịch bị tổn thương cùng với những vết loét, âm suy nhiệt thịnh, bệnh rất nghiêm trọng. Luữi khô, xám đều là dấu hiệu của bệnh nặng.
Khi lè lưỡi ra, mặt lưỡi trắng bạch cho thấy chức năng của hệ thống thần kinh bị suy nhược. Lưỡi cứng là dấu hiệu của hiện tượng vỡ mạch máu não; lưỡi nhọn, trắng là dấu hiệu của hiện tượng trúng gió.
(2) Bựa lưỡi (bao gồm chất và màu sắc của bựa lưỡi) là một lớp bột trên niêm mạc bề mặt của lưỡi. Bựa lưỡi bình thường phải mỏng và phân bô đều trôn mặt lưỡi, ở giữa lưỡi hơi dầy, ướt và có màu hồng nhạt.
Bựa lưới mỏng là biếu hiện giai đoạn đầu của bệnh; bựa lưỡi dầy cho thay bệnh tương đôi nặng, chức năng dạ dày và ruột đều gặp trở ngại hoặc có đờm. Bựa lưỡi khô cho thấy tân dịch bị tổn thương, nóng trong, sôt cao hao tôn dịch, âm suy, tân dịch không đủ, cần phải uống nhiều nước để bó sung. Bựa lư&i chứa nhiều nước gọi là bựa nước trơn, cho các cơ quan nội tạng quá lạnh, trúng gió, ướt và họng có đờm... Bựa lưỡi có dạng bột mịn pha lẫn với dầu phân bô' dày đặc trên mặt lư&i. cho thấy thức ăn khó tiêu, chức năng tiêu hoá kém.
Bựa lưỡi trắng cho thấy bệnh tình nhẹ, chủ yếu là do cảm lạnh, dị ứng ngoài da, chứng hàn. Bựa lưỡi trơn, mỏng và trắng là dấu hiệu của bệnh phong thấp, cảm lạnh. Bựa lư&i dầy và trắng chứng tó trong cơ thể có đờm, phổi bị suy nhược, cảm phong hàn, dẫn đến đừơng hô hấp bị viêm nhiễm, viêm phế quản cấp tính và mãn tính, khó thở. Bựa lưỡi trắng, khô và mịn, chứng tỏ trong người có chỗ bị loét, địch phổi bị tổn thương, nhiệt lượng mất cân bằng, dịch trong cơ thể bài tiết không đều, cơ thể nóng trong có chỗ bị viêm nhiễm.
Bựa lưỡi màu vàng cho thấy bệnh tình trong người rất nặng, nhiệt lượng trong cơ thể tăng mạnh, dấu hiệu của chứng nhiệt, tà khí nhiều, dương thịnh âm suy, dấu hiệu của bệnh viêm dạ dày. Bựa lưỡi vàng dấu hiệu của bệnh nóng trong, bựa lưỡi màu vàng thẩm nhiệt lượng trong người càng tăng, bựa lười màu thổ hoàng nhiệt lượng trong người đạt mức cực điểm gây ra hiện tượng kiết 1Ị. Bựa lưỡi máu trắng chuyển sang màu vàng, trơn, cho thấy phong đã chuyển thành nhiệt, bệnh vẫn chưa làm hao tổn tân dịch trong cơ thể. Bựa lưỡi vàng, dầy và trơn, dạ dày bị đau do nhiệt (trên hai bàn tay và dưới da xuất hiện nhiều nốt ban đỏ trắng). Bựa lưỡi mịn và vàng cho thây nhiệt tập trung nhiều ồ trung tiêu (đoạn giữa dạ dày, theo cách gọi của Đông y), phổi, ho do đờm, viêm phổi, viêm phế quán, tiêu hoá không tốt, ăn không ngon... Bựa lưỡi vàng, dầy, khô dạ dày bị nhiệt làm hao tổn tân dịch. Bựa lưỡi vàng và nhạt, lưỡi đầy đặn và non, xung quanh lưỡi có nhiều vết răng cho thấy tỳ vị suy nhược, phù thùng. Bựa lưỡi có màu tro chứng tỏ bệnh đã nhiễm vào máu dần đến khí huyết bị hư tổn. Bựa lưỡi đen bệnh tình nguy kịch, cơ thê mất nước trầm trọng, nhiệt tăng, tân dịch khô cạn hoặc dương quá thịnh âm quá suy, tâm lực suy nhược.
. Mật mã sinh mệnh thể hiện ở tai
Tai là nơi thể hiện rất rõ bệnh tình cua cơ thể và lục phủ ngũ tạng. Dái tai tượng trung cho phần đầu; vành tai tượng trưng cho tứ chi; ốc nhĩ tượng trưng cho chức nàng của các khí quan nội tạng trong lồng ngực. Do đó, khi xem tai có thề nắm được toàn bộ thông tin sinh mệnh của con người. Dái tai có nếp nhăn là dấu hiệu rõ nét cho thấy bệnh tình ở hệ thống mạch máu não và tim. Đây là dấu hiệu của các bệnh tổn thương bất ngờ hoặc đau đầu, chóng mặt do mỡ máu cao, bệnh tim, cao huyết áp, thiên đầu thống, tắc mạch máu não và tim, tụ máu não, lượng máu cung cấp cho tim không đủ...gây ra. Khi xuất hiện triệu chứng bất ngờ, theo cách nói dân gian gọi là "phá sản" nên nếp nhăn này có tên là "Nếp nhăn phá sản".
Dái tai phản ánh trạng thái chức năng của các khí quan trên đầu, do đó người có dái tai dầy và. to, chỉ số IQ cao, đầu óc thông minh, tinh lực dồi dào, là dấu hiệu của sự khoẻ mạnh. Toàn bộ tai có liên quan đến thận và tuỷ sống. Trong đó thận có quan hệ mật thiết với chức năng sinh dục, thể hiện trạng thái khả năng tình dục. Do đó, vành tai to hay nhỏ, dầy hay mỏng thể hiện khả năng quan hệ tình dục mạnh hay yếu. Người có tai nhỏ, không có dái tai, tai mỏng thường là người bạc tình, tự ti, chuyên quyền, lạnh nhạt, đặc biệt đối với những người lông mày thua và nhạt thì biểu hiện trên càng rõ nét hơn, gia đình không hoà thuận. Tai rắn chắc, chức năng của thận tốt, gân cốt cũng cứng chắc. Ngoài ra, tai còn tượng trưng cho tử cung. Trong y học phương Đông, tai là một thế giới độc lập, một vũ trụ nhỏ, có nhĩ chẩn, nhĩ châm, huyệt đạo, từ đó có thể điều trị được các loại bệnh ở toàn thân.
Trong quá trình giải phẫu thi thể, các chuyên gia y học người Mỹ đã nhiều lần phát hiện thấy, tất cả những bệnh nhân chết vì bệnh sơ cứng động mạch, thì trên dái tai của họ đều có một nếp nhăn. Sau khi tiến hành nghiên cứu tương đối kỹ, các nhà khoa học phát hiện thấy, trong số những người có nếp nhăn ở dái tai thì có tới 90% số người mắc bệnh tim; trong số 11 ví dụ bệnh nhân không có nếp nhăn trên dái tai, có tới 10 ví dụ có động mạch bình thường. Đồng thời, tiến hành kiểm tra dái tai của một nhóm 121 ví dụ được chẩn đoán chắc chắn là bị bệnh tim, thì có tới 120 ví dụ có nếp nhăn.
Nếp nhăn trên dái tai là chỉ nếp nhăn hình dây xích sâu và chếch lên trên ở hai dái tai, nếp nhăn đó hầu hết bắt đầu từ cửa tai nghiêng về phía sau cho đên đường viền bên ngoài của dái tai, đa số là hình đường thẳng đơn (những nếp nhăn ngắn và không có hình dây xích thì không thuộc phạm vi này). Dái tai được tạo thành bởi tổ chức giống như tổ ong, không có xương, không có dây chằng và thịt, chất dinh dưỡng nuôi dái tai do động mạch phía sau tai cung cấp. Người mắc bệnh tim do độ kết dính trong máu tăng và động lực cửa mạch máu thay đổi nên rất dễ dẫn đến lượng máu cung cấp cho tổ chức dái tai không đủ, dái tai co lại, tạo thành nếp nhăn trên dái tai. Nếp nhăn trên dái tai cũng là dấu hiệu giúp phát hiện sớm bệnh tim.
Hình 29: Nếp nhăn thể hiện bệnh tim trên dái tai
Nghiên cứu mới nhất của một Trung tâm nghiên cứu y học nổi tiếng của Mỹ cho thấy, từ tuổi 45 trở lên có dấu hiệu đau ngực và các dấu hiệu khả nghi khác, nếu thấy xuất hiện nếp nhăn trên dái tai, thì có tới 90% cho thấy người này bị sơ cứng động mạch vành. Hiện nay, ở Trung Quốc bắt đầu chú trọng đến việc nghiên cứu mối quan hệ giữa nếp nhăn và bệnh tim. Sau khi nghiên cứu đối với 292 ví dụ về người già mắc bệnh liên quan đến hệ thống tuần hoàn máu ở tim, tỷ lệ người già có nếp nhăn ở dái tai là 85,6%, trong số 40 ví dụ về bệnh nhân vừa bị huyết áp cao, vừa bị bệnh tim có tới 90% số người có nếp nhăn là 95%. Nếp nhăn trên dái tai rất dễ phát hiện, có tác dụng nhất định trong chẩn đoán lâm sàng. Những người trung niên và người già nên thường xuyên dùng gương để soi tai của mình, nếu phát hiện thấy trên dái tai có nếp nhản thì có khá năng mắc bệnh tim.
Mật mà sinh mệnh thể hiện ở các phần của khuôn mặt
Trán
Trán tượng trưng cho trí tuệ, tuổi thọ. Trán được tính từ lông mày trở lên, từ chỗ mọc tóc trở xuống và từ hai bên mai trở vào. VỊ trí lồi lên ở hai bên trán chính là đầu khớp xương trán. Nếu ở vị trí chính giữa trán xuất hiện vết lõm nhẹ, cho thấy người này thời trẻ đã phải chịu nhiều khổ cực, cuộc sống vất vả, gặp nhiều hoạn nạn, thời niên thiếu dinh dưỡng không đủ, phát triển không tốt nôn đã đê’ lại dấu vét này. Những người trán cao và rộng, dù là nam hay nữ, đa phần là rất thông minh, đại não phát triển, tư duy nhanh nhẹn. Đỉnh trán có đường giới hạn, hất về phía sau và trán dài cho thấy người này sống rất trường thọ. Trán rộng, rô và dài vừa là người có trí tuệ vừa trường thọ, tinh lực dồi dào. Những người này thường gầy gò, chắc nịch, các bức tranh về tiên ông trong dân gian thường vẽ những ông tiên có trán rộng, dài. Trán ngắn và thấp, thường là người nhu nhược nhưng ôn hoà và lương thiện. Tuy nhiên, người có trán quá hẹp và ngắn, thường là người đần độn bẩm sinh.
Má
Má là cung vị cúa tim và phối, xương gò má tượng trưng cho cá tính. Xương gò má càng cao cá tính càng mạnh mẽ. Má cao tức xương gò má có hình khuê giác, tài năng bộc lộ rõ, nóng tính, bướng bính, buông thả. Nếu má cao và tròn, mặc dù có cá tính nhưng có thế tuỳ cơ ứng biến, tương đối tròn trịa. Xương gò má ẩn và không rõ, thường là người không có cá tính, mềm yếu, nam mát đi sự ôn hoà nhưng là người lương thiện, nữ dịu dàng, hiền hậu, biết chăm sóc người khác, tâm lý, chu đáo.
Quan niệm của người xưa: "Nam gò má cao là bậc anh hào" hoặc "Nữ gò má cao, sát chồng không cần dao". Nghĩa là nữ giới gò má cao tính tình nóng nảy, hung dữ, khó sông với người khác. Người vợ và con dâu kiểu này dễ làm mất lòng mọi người trong gia đình, nhưng người phụ nữ này làm việc rất chàm chỉ, xuất sắc, có năng lực thực sự, giỏi hơn nam giới. Đối với những người chồng kém cỏi, rât cần một người vợ như thê này.
Đường vân quyền lực
Đường vân quyền lực thề hiện uy lực, quyền thế của một người. Hai đường vân xuất phát từ cánh mũi và cong xuống dưới gọi là đường vân quyền lực. Đường vân quyền lực có ba ý nghĩa: Có địa vị quyền lực trên chính trường; rất quan tâm đến gia đình, có uy tín và vai trò quan trọng trong gia đình; thành công trong sự nghiệp. Hiện tại phụ nữ có rất nhiều cơ hội phát huy tài năng của mình trong các lĩnh vực, có thể đạt được những thành tích rất cao. Phụ nữ có đường vân quyền lực rõ ràng thường là người có tài năng quản lý và năng lực tổ chức, khả năng điều hành, là dấu hiệu của nâng lực thực tê. Dù là nam hay nữ, nếu có đường vân quyền lực rõ nét, nhất định là một người lãnh đạo tài năng hoặc là người có thành tích rất nổi bật trên một phương diện nào đó. Đường vân quyền lực không rõ nét, thiếu sự cởi mở, tính tình ôn hoà, là người bình thường, không có gì nổi bật.
Nhân trung
Nhân trung tượng trưng cho con cai. nhân trung cung vị cùa họ thống sinh dục, đô'i với nữ thì nhan trung còn tương trưng cho tứ cung. Thông thường moi ngươi đều cho rĩìng nhân Hung càng <111 thì con cái cang nhiổu. nhân trung càng nông thì con cái càng ít. Theo kinh nghiôm cua chung toi, nhân trung sáu thường sinh con trai; nhân trung nong thương sinh con gái, nhân trung rộng thương có nhiều con, ty lợ chứng minh tròn thực tè rât cao. Nhân trung phía tròn hẹp, phía dưới rộng thì nhiều con cháu, cá trôn và dưới nhân trung đều hẹp nhưng chính giữa nhân trung rộng thì con cháu sẽ rât khổ, cá trên và dưới nhân trung đều thẳng và đầy đặn con cháu đầy nhà, cả trên và dưới nhân trung đều bằng phẳng và nông con cháu hiếm muộn; nhân trung gẫy khúc thường là người không trọng tín nghĩa; nhân trung thẳng là người trọng tín nghĩa.
Cằm
Cằm tượng trưng cho sự may mắn về già và nghị lực. Ngươi có cằm dài và rộng thường được hưởng phúc về già và may mắn. Người có càm quá nhọn và hẹp, viễn cảnh về già không tốt. Phụ nữ khuôn mặt hình trái xoan có cằm nhỏ thường là người rất xinh, khéo léo, nhanh nhẹn. Thời trẻ rất đẹp, có sức hấp dẫn. Nếu lấy phải những người chỉ thích sắc đẹp thì khi về già cô gái này sê rất khổ, vất vả, hay còn gọi là "hồng nhan bạc mệnh", bởi vì khi đó cô gái đã mất đi vẻ đẹp của mình.
Người có cằm hai ngấn thường là người có khả năng rất tốt trong việc hoá giải nguy hiểm, biến dữ thành lành, ngay cả khi bị dồn đến bước đường cùng họ vẫn tìm được lôi thoát, dường như có thần trợ giúp, nên mọi khó khăn đều tự nhiên được giải quyết. Xương cằm lộ rõ ra ngoài, có hình chữ "Sơn" cho thấy đây là người rất có nghị lực, khắc khổ, luôn tự phấn đấu, từ nhỏ đến khoảng 40 tuổi rất vất vả, khổ cực, nhưng nhờ sự nỗ lực phấn đấu vươn lên, sau này trở thành một người thành công, có quyền lực và đạt được những thành tựu nổi bật trên một lĩnh vực nào đó, cằm hình chữ "Ư" thường là người cương trực; cằm tròn thường là người ôn hoà.
Quai hàm
Quai hàm tượng trưng cho dũng khí. Quai hàm rộng thường là người dũng cảm, mạnh dạn, can đảm có khả năng đảm đương được việc lớn, không sợ việc, có sức hấp dẫn, quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, xông xáo, đám mạo hiểm, có tinh thần cởi mở. Tuy nhiên người có quai hàm to thường tính phản kháng cũng rất mạnh, đặc biệt đối với những người trong lòng bàn tay có đường vân phản kháng hoặc đường sinh mệnh và đường trí tuệ phân cách hoặc có đường vân xuyên suốt toàn bộ bàn tay... thì biểu hiện tính phản kháng càng rõ nét. Người này thường rất mạnh dạn, dũng cảm, quyết đoán trong công việc, nhìn từ phía sau gáy thấy quai hàm bè sang hai bên chính là dấu hiệu của tính cách này. Quai hàm to, xương gò má cao thì tính cách này càng nổi bật. Do đó những người quai hàm to khi làm việc không được làm liều, mạnh dạn nhưng phải khoa học, phải biết kiềm chế, điềm đạm và phải có mưư cao, như vậy thì làm việc gì cũng thành công, tỷ lệ thành công trong sự nghiệp rất cao.
Mật mã sinh mệnh thể hiện trên tổng thể khuôn mặt
Tổng luận về mật mã trên khuôn mặt
Mật mã trên khuôn mặt chỉ đặc trưng tổng thể.của phần đầu người, là ngắn hay dài, là vuông hay tròn, là gầy hay béo... khoảng cách từ vị trí có tóc mọc đến phía trên lông mày gọi là "Thượng đình ', từ lông mày đến mũi gọi là "Trung đình", từ mũi đến nhân trung và cằm gọi là "Hạ đình". Khùôn mặt được coi là phú quý nếu cả ba "Đình" này phải tương xứng với nhau và đầy đặn, một trong ba "Đình" đó bị khác thường thì khuôn mặt chưa hoàn thiện. Điều đó có nghĩa là, sự to nhỏ, dài ngắn, dầy mỏng, cao thấp, rộng hẹp... của các khí quan trên khuôn mặt và hình dáng cơ bản của khuôn mặt đều lấy tỷ lệ của các bộ phận của cơ thể làm tiêu chuẩn, không cần đưa ra một chỉ số được phân tích theo định lượng, nhưng cũng phải có một chuẩn mực nhất định, vượt qua chuẩn mực đó bao nhiêu thì bị coi là to, dài... kém chuẩn mực đó bao nhiêu thì bị coi là mỏng, thấp.... đây là cách tính mang tính thực tế, không phải là cách thức quan sát nghiên cứu sự vật của người phương Đông. Người phương Tây thường đưa ra một chỉ số chuẩn mực, sau đó sử dụng máy tính để tính toán, đây là cách tính theo chủ nghĩa duy vật máy móc của người phương Tây. Trong thuật tướng số của người phương Đông không thể sử dụng phương pháp đổ mà tất cả đều mang tính ước lượng, không đòi hỏi độ chuẩn xác cao về mặt số đo.
Tóm lại, các bộ phận trên khuôn mặt phải phối hợp hài hoà, bộ phận này không thế to hơn hoặc nhỏ hơn bộ phận kia. Ví dụ người có mũi cao thì ắt là người thông minh, phú quý, nếu cái mũi đó mọc trên khuôn mặt nhỏ, các bộ phận khác trên khuôn mặt có kích thước không phù hợp với cái mũi đó thì cũng không phải là khuôn mặt đẹp, hài hoà. Thuật tướng số của người phương Đông thường dựa vào tướng mạo để luận phúc, lộc, thọ của một người, mà khồng nói tại sao tướng mạo này lại được coi là phúc, lộc, thọ; tướng mạo kia không được coi là phúc, lộc, thọ. Do đó, trong khi luận tướng mạo không thể tránh khỏi những quan niệm mang tính trừu tượng. Tướng số học hiện đại, nghiên cứu hình thức biểu hiện các trạng thái thông tin sinh mệnh trên cơ thể xuất phát từ các phương diện di truyền học bẩm sinh, sinh lí học, tâm lí học và giáo dục học, dinh dưỡng học...., như vậy đã loại bỏ đi những thành phần võ đoán trong tướng số học cổ đại, khảng định kinh nghiệm quan sát và kinh nghiêm trực giác của người đi trước, đưa ra những lý giải mới, cũng chính là nhằm phát triển tướng số học nguyên bản trước đây.
Hình 30: Mật ma sình mệnh thể hiện trên khuôn mặt
Một khuôn mặt phú quý phái là khuôn mặt có tưóng mạo đoan trang, đạo mạo, khí hoà; kị nhàt là khuôn mặt nghiêng lệch, khuôn mặt không cân đối, khuồn mặt thần sắc u ám, gầy guộc.
Khuôn mặt hình chữ “Đồng” ()
Khuôn mặt hình chữ “Đồng” í ["] ) hay còn gọi là khuôn mặt hình chữ "Quôc". Khuón mặt này có ba "Đình" cân đối nhau, hình chữ nhật (H) . Ba "Đình" dài và rộng, ngũ quan đầy đặn, dầy, có góc cạnh. Đây là khuôn mật phú quý. Những người có khuôn mặt này, thường là người chính trực tâm trong sáng, có uy lực, cá tính mạnh mẽ, làm việc tích cực, cương trực, thưởng phạt phân minh, tinh lực dồi dào, hợp với lĩnh vực chính trị, quản lý, thường là nhân vật trung tâm nổi bật hoặc là nòng cốt của một tổ chức hoặc một nhóm người nào đó, đặc biệt đối với những người có đường vân xuyên suốt lòng bàn tay, đường tình cảm của tay trái và tay phải kéo dài đến phía dưới của ngón trỏ chia thành hai nhánh, một nhánh hướng lên trên và một nhánh hướng xuôhg dưới, gò của ngón trỏ đầy đặn... thì tính cách trên càng rõ nét hơn, đa số là người thuộc hành Thổ.
Người có khuôn mặt hình chữ “Đồng” thường là người cơ bắp, trí lực và tinh lực hài hoà. Người gầy gò có khuôn mặt này cũng rất tốt, có tính quyết đoán, hiệu quả làm việc cao. Người to béo có khuôn mặt này thường là người theo chủ nghĩa quan liêu, tự cao tự đại, không làm được việc gì, thiếu chí khí, giỏi luồn lách, ứng biến. Người có khuôn mặt hình chữ “Đồng” thường là người có hình dáng cao (Hình 30-(10)).
Mặt vuông chữ điền (ffl)
Mặt vuông chữ điền (ffl) là khuôn mặt vuông vắn. Khuôn mặt này ngắn hơn so với khuôn mặt hình chữ đồng, ba "Đình" ngắn và rộng, khuôn mặt rộng, dầy đặn, sáng sủa, tròn trịa, được coi là khuôn mặt của sự phú quý. Đặc trưng chủ yếu của khuôn mặt này đó là hình dáng khuôn mặt và các bộ phận trên khuôn mặt đều vuông vắn trong khuôn mặt tròn trịa, tính tình ôn hoà, độ lượng, khoan dưng, lương thiện, tương đối trung hậu, có duyên, quan hệ xã giao tốt, vui vẻ giúp đỡ người khác, giàu lòng đồng cảm. Khả năng ứng biến rất tốt, sống nội tâm, ẩn vào bên trong, có mưu lược, phù hợp với các lĩnh vực chính trị, quản lý, đặc biệt là công việc trợ lý, không hợp với những công việc độc lập, đơn thương độc mã, nếu muốn độc lập tiến hành một công việc phải có một trợ lý đắc lực. Người có khuôn mặt này thường rất phúc hậu, độ lượng. Luôn bảo vệ cấp dưới, có trách nhiệm với cấp trên, do đó rất phù hợp với những công việc cụ thể và công việc liên quan đến kỹ thuật, công tác nghiên cứu. Đặc biệt đôi với những người có đường trí tuệ dài, hướng xuống dưới và đoạn đầu có hình lông cánh, đoạn cuối của đường tình cảm hướng xuống dưới và dài thì tính cách trên càng thể hiện rõ nét hơn. Mặt vuông chữ điền thường thấy ở những người có cơ bắp chắc chắn và to béo. Thường thuộc nhóm người hành Thuỷ và hành Thổ (Hình 30-(2)).
Khuôn mặt hình chữ mục (0)
Mặt hình chữ mục (II) thường dài hơn khuôn mặt hình chữ đồng, là biến thể của khuôn mặt hình chữ đồng. Khuôn mặt này có trán cao và hẹp, cằm hẹp và dài, đặc trưng của các bộ phận trên khuôn mặt giông như khuôn mặt hình chữ đồng, nhiều bộ phận vuông vắn và có góc cạnh. Những người có khuôn mặt này thường có thân hình cao, khôi ngô, trường thọ, thường thấy ở những người có cơ bắp phát triển vừa phải (Hình 30-(3)).
Người có khuôn mặt hình chữ mục đa số đều có một đặc trưng đó là khéo tay hoặc có những nghiến cứư tương đối sâu sắc về một sự vật, học vấn, kỹ nghệ nào đó. Đường trí tuệ của người này thẳng, kéo dài đến gò Nguyệt, có năng khiếu nghệ thuật, người có đường trí tuệ thẳng và kéo đài đến gò Hoả tĩnh thứ hai thường là người có năng khiếu về khoa học kỹ thuật. Người có khuôn mặt hình chữ mục thường có tính cách mạnh mẽ, tự phấn đấu vươn lên, ý trí kiên cường. Không thích sự nhàn rỗi, luôn động chân động tay, tìm thấy niềm vui trong sự bận rộn của công việc, đại đa số là người thuộc nhóm hành Thổ.
Khuôn mặt hình chữ nhật (H)
Khuôn mặt hình chữ nhật (H) là khuôn mặt hình chữ đồng nhỏ. Biếii thể của khuôn mặt hình chữ nhật là hình chữ vương (ĩ) . Tất cả những người có khuôn mặt hình vuông, có xương nhung không có thịt gọi là khuôn mặt hình chữ vương (i) , thường thấy ở những người tâm tính. Người có khuôn mặt hình chữ nhật hoặc hình chữ vương thường là người cơ mưu, tính toán, nhạy bén hơn người, bận rộn vất vả, thích ổn định, hơi tham lam, đôi khi tự ti, hiếu thắng, do công việc quá bận rộn nên thường bị mệt mỏi, ý tưởng râl nhiều nhưng lực không đủ, lực bất tòng tâm, cảm thấy mệt mỏi. Cuộc sống có nhiều biến đổi thăng trầm, khó khăn, nhưng trước sau như một luôn phấn đấu hết mình, cuối cùng cũng đạt được kết quả. Thường là người thuộc nhóm hành Mộc (Hình 30-(4)). Những người có khuôn mặt này, cần phải biết lượng sức mình, nếu không sẽ quá mệt mỏi dẫn đến bệnh tật.
Khuôn mặt hình chữ phong (K)
Khuôn mặt chữ phong (1x0 là biến thể của khuôn mặt hình chữ đồng () . Tất cả những người có trán rộng, cằm rộng và đầy đặn, khuôn mặt có trung đình hẹp, được gọi là khuôn mặt hình chữ phong (R). Những người này thời niên thiếu không có buồn phiền, về già phú quý, thời kỳ trung niên vất vả. Khoan dung, độ lượng với người khác, thông minh, nhưng chậm chạp, thiếu sự nhạy bén, thường là người thuộc nhóm hành Thổ (Hình 30-(5)).
Khuôn mặt hình chữ dụng (ffl)
Người có khuôn mặt hình chữ dụng (ffl) là khuôn mặt hình chữ đồng bị lệch. Những người có khụốn mặt không đoan chính đều là khuôn mặt hình chữ dụng. Đa sô thượng đình và trung đình có hình vuông, trong đó bên trái hoặc bên phải hạ đình hơi nghiêng, hoặc bên phải hẹp, bên trái đầy đặn, hoặc bên phải đầy đặn bên trái hẹp. Những người có khuôn mặt này thường có nhiều nhược điểm về tính cách, luôn tỏ ra là người cô' chấp, có tính khuynh hướng rõ rệt, có trình độ sâu sắc về một lĩnh vực nào đó, đôi lúc đi vào chỗ bế tắc, luôn đưa ra ý tưởng độc đáo mà người bình thường không có. Nếu lông mày thanh mảnh, đen, ánh mắt sáng rực, trán rộng, cho thấy người này nhất định sẽ thành công trong một lĩnh vực nào dó. Nếu lông mày thưa, phân tán, ánh mắt không mấy sáng sủa, trán rộng thường là người hay mệt mỏi, chán nản, mặc dù tư chất thông minh nhưng không làm được việc gì xuất sắc, nếu chịu khó hơn và làm việc theo kê hoạch thì nhất định sẽ thành công. Đa sô' là người thuộc nhóm hành Thổ (Hình 30-(5)).
Khuôn mặt hình chữ giáp (^)
Khuôn mặt hình chữ giáp (ĩp) , trên rộng dưới hẹp, trán rộng, cằm nhỏ, hữu thiên vô địa, hay còn gọi là khuôn mặt hình quả dưa hoặc khuôn mặt hình quả trứng thiên nga. Những người có khuôn mặt này nếu là nữ thì thường là người xinh đẹp, dễ thương, có sức hấp dẫn. Nếu sử dụng sắc đẹp để quyến rũ người bạn đời thì khi về già sắc đẹp không còn nữa sẽ rất khổ, kiểu người này còn gọi là "hồng nhan bạc mệnh". Nếu là nam thường là người không có nam tính, yếu đuối, thiếu quyết đoán, tính tình mềm yếu, lòng dạ hẹp hòi, thiếu dũng khí, luôn dựa dẫm ỷ lại vào người khác. Đa số là người thuộc nhóm hành kim (Hình 30-(6)).
Khuôn mặt hình chữ do (Ẻ)
Khuôn mặt hình chữ do (Ẻ), trên hẹp dưới rộng, trán hẹp, hai má đầy đặn, xương quai hàm to, tỷ lệ trên và dưới không cân đô'i, trên quá nhỏ, dưới quá to là khuôn mặt dữ. Nếu là người có cơ bắp, mặt nhiều thịt thì biểu hiện trên càng rõ nét, nếu gặp kiểu người này sẽ khiến mọi người rất đau đầu. Loại người này thô bạo vô học, nguy biện, tâm địa đen tối, đố kị, thích dùng vũ lực, không sống theo đạo lý, không khuyên bảo bằng lời lẽ được, nhưng họ là người rất nghĩa hiệp nếu như được đỗi xử tốt.
Người có khuôn mặt hình,chữ do, nếu thượng đình không quá hẹp, gần với trung đình thì rất tốt, cũng là khuôn mặt phúc hậu. Những người có khuôn mặt này thường là người béo, nhưng cơ thịt trên khuôn mặt phải mọc từ trên xuống, không được mọc ngang. Những người này thường trung hậu, linh tính không tốt, mọi việc đều bình thường, tính tình ôn hoà, tấm lòng luôn rộng mở, cơ thể béo mập, dái tai tròn, mặt mũi hiền lành, vui vẻ hoà nhã. Thông thường những người này không mấy phát triển trong sự nghiệp, khả năng tự bảo vệ tương đối kém. Kiểu người này, mặc dù không có tâm địa hại người, nhưng không thể không có tâm lý đề phòng với người khác, vì nếu như vậy vô hình chung trở thành vật hy sinh. Người có khuôn mặt hình chữ do đa sô' là người thuộc nhóm hành Thổ.
Khuôn mặt hình chữ trung (41)
Người có khuôn mặt hình chữ trung (ct3)hay còn gọi là khuôn mặt hình chữ thân (í) phần trên và dưới của khuôn mặt hẹp, phần giữa rộng. Những người này, thời niên thiếu khó khăn vất vả, thời thanh niên cuộc sống tương đối tốt, nhưng do thời thanh niên sống không tốt, lại kém thông minh, thời kỳ trung niên được sống sung túc vui vẻ một thời gian, khi về già gặp nhiều khó khăn vất vả, đây là kiểu dáng khuôn mặt xấu nhất trong số các khuôn mặt trên. Người có khuôn mặt này thường tương đối ích kỷ, đặc biệt đối với những người tai nhỏ và không có dái tai, lông mày thưa, nhạt thì biểu hiện trên càng rõ nét hơn. Khuôn mặt khắc khổ, cũng rất xung khắc với nhiều người, bởi vì người này sống rất ích kỷ, cay nghiệt, vô tình vô nghĩa, tự cho rằng mình đúng trong tất cả mọi việc, làm việc không thấu tình đạt lý, cá tính mạnh mẽ, rất dễ làm những việc khiến người khác không thể chịu nổi, do đó quan hệ xã giao rất kém, gia đình không hoà thuận, họ đi đến đâu thì ở đó xảy ra chuyện rắc rối. "Xung khắc" với người khác tức là gây phiền toái và tai hoạ cho người khác, tính cách đó của họ được hình thành bẩm sinh. Khi kết giao với những người này cần phải đặc biệt thận trọng, khi bị những người này hăm hại bạn phải trả giá rất dắt. Người có khuôn mặt hình chữ trung đa số là người thuộc hành Hoả (Hình 30-(8)).
Khuôn mặt hình chữ tứ (H)
Khuôn mặt hình chữ tữ (Gg) không được nhắc đến nhiều trong sách tướng số, khuôn mặt này có chiều ngang rộng, ba "Đình" từ trên xuống dưới thường rất ngắn, đa số xương quai hàm ở giữa nhô cao, đây là kiểu khuôn mặt biến thể của khuôn mặt hình chữ trung. Người có khuôn mặt này thường là người xấu, ương bướng, đa sô' là dáng người cơ bắp hoặc người tâm tính, thân hình tương đối thấp và nhỏ, hành vi chặt chẽ, kỳ quặc, thường có tâm lý biến thái, lòng dạ độc ác, không thể không đề phòng, đặc biệt đô'i với những người có tiếng nói như lang sói hoặc là nam giới nhưng giọng nói như nữ giới hoặc là nữ giới nhưng giọng nói lại như nam giới thì đặc điểm trên càng rõ nét hơn.
Tóm lại
Tất cả những khuôn mặt trên đều mang tính chất tương đô'i, cần phải đánh giá kết hợp với lông mày, mắt, tai, mũi, miệng... để phán đoán tâm tính của một người. Tướng sô' là dấu hiệu của tâm tính, nhưng ngoài tướng mạo ra, dấu hiệu của tâm tính còn có hành vi, giọng nói... Các tướng mạo và tính cách bổ sung cho nhau, do đó trong tướng mạo thể hiện tính cách độc ác có ẩn chứa tướng mạo thể hiện sự lương thiện, trong tướng mạo thể hiện sự lương thiện có ẩn chứa tướng mạo thể hiện tính cách độc ác, đó là nguyên lý thường tình, đều xuất phát từ bản năng lòng tự trọng và khả năng tự vệ của con người. Bởi vậy, tướng mạo dữ dằn, tâm tính lương thiện hoặc không hẳn là lương thiện vẫn có thể trở thành người quân tử, ngược lại người có tướng mạo tốt nhưng tâm tính hiểm ác thì vẫn là kẻ tiểu nhân.
Có người quan niệm rằng: "Nước biển khó đong, lòng người khó lường" muốn nói đến sự không phù hợp giữa tâm tính và tướng mạo, không thể chỉ đơn thuần dựa vào tướng mạo để phán đoán tính cách của một người là tốt hay xấu, là lương thiện hay độc ác. Trong tác phẩm "Phi tướng thiên", Tuân Tử cho rằng tướng mạo của con người dài ngắn, to nhổ, lương thiện hay độc ác... không đáng tin cậy, điều đáng tin cậy nhất chính là cái tâm của con người, phán đoán phẩm chất hành vi của con người thông qua việc tìm hiểu và nắm bắt cái tâm của họ, sai lầm ở chỗ Tuân Tử đã đối lập giữa tâm và tướng.
Như trên đã nói, tâm tướng sô học và khoa học nghiên cứu về dấu hiệu thông tin sinh mệnh coi tướng mạo - một nhân tố thực tế vốn có khách quan là hình thức thể hiện bên ngoài của trạng thái chức nảng sinh mệnh và tâm tính, là đối ứng, quan hệ đôi ứng này được xây dựng trên cơ sở quy luật âm dương tương hợp, tương sinh và tương khắc lẫn nhau, do đó trong cái thiện có cái ác, trong cái ác có cái thiện, trong cái đẹp có cái xấu, trong cái xấu có cái đẹp, hành vi và lời noi cũng là một loại dấu hiệu của sinh mệnh, do đó không nên tin vào lời của thầy bói, tin vào họ bạn sẽ sai lầm.
Mật mã sinh mệnh thể hiện qua khí sắc của khuôn mặt
Khi xem xét một khuôn mặt, trước tiên phải xem tổng thể xương của khuôn mặt, tiếp đó là tam đình (từ trán đến vai, từ lống mày đến mũi, từ mũi đến cằm được gọi là tam đình), tiếp đó là đến ngũ quan, khí sắc và cuôì cùng là xem diễn biến của cuộc sông. Cốt cách quyết định xu hướng tính cách tổng thể của con người, khí sắc thể hiện trạng thái sinh mệnh của con người theo năm tháng. Thời niên thiếu không hợp với gam màu khô, về già không hợp với gam màu non nớt. Màu sắc khô khan chứng tỏ khí huyết mất cân bằng, sẽ sinh ra nhiều bệnh. Màu sắc non nớt khí huyết cũng mất cân bằng, dư thừa dẫn tới các bệnh 'huyết áp cao, viêm phổi, viêm gan, mặt đỏ hồng hào... màu sắc trơn bóng và sáng sủa thể hiện bệnh phù thũng, đều là dấu hiệu ác tính về trạng thái của bệnh, thường có bạo bệnh, không thể không chú ý. Khí sắc phù hợp với thiếu niên nhi đồng là hồng hào dịu mắt, tướng mạo phải đứng đắn đoan trang.
Tóc mềm, đen và óng ánh cho thấy trạng thái sức khoẻ tốt, tinh lực xung mãn. Tóc dầy và vàng là dấu hiệu của hiện tượng thiếu chất dinh dưỡng, sức sống không mạnh. Tóc cứng và thô ráp, máu nóng, sinh nhiệt ở gan. Tóc vàng và thưa, trán rộng thường là người thông minh. Tóc thẳng và mềm thể hiện người này ưa nhẹ không ưa nặng, tính tình ngang bướng.
Tóc của nam giới cứng được coi là tốt, tóc của nữ giới mềm được coi là đẹp. Tóc của nam giới đen như sơn, dầy, óng mượt, thận khí sung mãn, dương khí đầy đủ. Tóc của nam giới mềm và mịn, tính tình mềm yếu, nhát gan. Tóc của nữ giới màu đen tơ hoặc màu vàng tơ, mềm mại óng mượt thường là người hiền thục, trí tuệ, thận khí sung mãn, khả nâng sinh dục mạnh. Tóc của nữ thô như cỏ khô, thường là người tính tình thô thiển, tâm địa xấu xa, chua ngoa, độc ác. Những người có tóc vàng, mặG dù có 5 màu sắc phân biệt kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ, nhưng màu vàng vẫn là chính, cho thấy khí huyết sung mãn, trong đó màu đỏ xen lẫn với màu vàng và trơn bóng, sạch sẽ thể hiện sự khoẻ mạnh.
Màu hồng cho thấy huyết mạch sung mãn, màu vàng thể hiện chính khí và là màu sắc chính, trơn bóng thể hiện sự lưư thồng của hệ thống tuần hoàn máu, sự sạch sẽ thể hiện chính khí hài hoà. Do vậy, sự tốt hay xấu của trạng thái sinh mệnh đều được thể hiện qua khí sắc của khuôn mặt, đều có liên quan mật thiết đến trạng thái chức năng của cơ thể và lục phủ ngũ tạng. Hệ thống thông tin sinh mệnh này đã được người xưa vận dụng vào trong y học từ kỷ nguyên trước. Dân gian tương truyền: 'Vận mệnh tốt hay xấu thể hiện ở khí sắc của các bộ phận". Tức là, khí sắc của các bộ phận tượng trưng cho trạng thái chức năng của lục phủ ngũ tạng, sắc mặt hồng hào chứng tỏ khí huyết sung mãn. Mặt vàng chúng tỏ cơ thể thiếu dinh dưỡng. Mặt xanh nhợt, vừa trắng vừa có màu tro cho thấy bệnh đã xâm nhập vào nội tạng, gây nguy hiểm đến tính mạng.
Người xưa quan niệm: "Mặt xanh thì bệnh tình nguy hiếm, mặt không có màu đỏ của máu chứng tỏ bệnh nặng hơn, mặt có màu hoa mai vàng chứng tỏ bệnh trầm trọng, mặt có màu đen chứng tỏ trong người lúc nào cũng có bệnh; mặt có màu đỏ lòng đào chứng tỏ đây là người háo sắc". Đây là những kinh nghiệm người xưa rút ra trong thực tiền cuộc sông. Khí sắc có màu hồng, vàng, trơn và sạch sẽ được coi là tốt; khí sắc kị với màu đỏ rực, đen và tối màu. Màu đỏ rực chứng tỏ gan nhiệt tăng, tâm lý mất thăng bằng dễ nổi nóng. Màu trắng bạch cho thấy nguyên khí của cơ thể bị tổn thương, cơ thể suy nhược, suy giảm hệ thống miễn dịch, bệnh tật sẽ tấn công cơ thể, gây bệnh cho các cơ quan của lục phủ ngũ tạng. Màu xanh lẫn với màu tro cho thấy hệ thông thần kinh bị tác động mạnh, gây hoảng loạn tinh thần, không kiểm soát được hành vi. Màu xanh lam cho thấy bệnh tình nguy kịch hoặc cơ thể quá suy nhược hoặc sắp gặp hoạ lớn có thể phải vào tù.hoặc sắp sang thế giới bên kia.
Người có da màu vàng lẫn với màu đỏ tạo thành màu tím, trong màu vàng có màu tím tượng trưng cho "Vận may”. Vận may vốn chỉ "Vân ngũ sắc". Nếu trên trán có vết màu vàng xen lẫn với màu tím, giống như hình những bông hoa nhỏ hoặc hình hạt đậu chứng tỏ người này sắp có "vận may". Dâu hiệu đó xuất hiện ở vị trí nào thì vị trí đó sẽ có điềm lành.
Chính sắc, chính khí không đủ chứng tỏ khí trong người bị tắc nghẽn, điều đó có nghĩa là khí huyết bị cản trở, không lưư thông, ngưng tụ tại một chỗ. Gam màu tối cho thấy âm khí trong người rất nặng, ví dụ màu nâu, màu tím, màu xanh thẫm, màu thổ hoàng, màu tro thẫm, màu vàng thẫm.... đều cho thấy khí trong người quá nặng dẫn đến bị tắc nghẽn. Người bị tắc nghẽn khí thường có biểu hiện đờ đẫn như người buồn ngủ hoặc người say, vừa buồn phiền vừa đau khổ, cử chỉ rpệt mỏi, giọng nói như người hết hơi. Khí trong người bị tắc nghẽn có nguyên nhân từ đinh dường, nguyên nhân tinh thần và nguyên nhân bẩm sinh (nguyên nhân di truyền)...
Lông mày thanh mảnh và đen được coi là lông mày đẹp, mắt đen, lòng trắng lòng đen rõ ràng, ánh mắt sáng được coi là mắt đẹp. Mắt đỏ rực chứng tỏ trong người có bệnh nặng, ánh mắt ướt át cả nam và nữ đều rất đa tình. Nước mắt đọng lại trong hốc mắt cho thấy khả năng sinh dục mạnh, nếu có thai thì sau nửa tháng có thể thấy được dấu hiệu này. Nước mắt đọng lại quá nhiều trong hốc mắt, màu sắc trên mặt khô khan, nhiều nếp nhăn, mũi to quắp xuống dưới, nhân trung bằng phẳng thường là dấu hiệu của bênh vô sinh.
Hai má đầy đặn, hồng hào, tâm khí sung mãn, thần thái tự tin, sức khoẻ tôi. Hai má màu xanh nhạt lẫn với màu trắng chứng tỏ cơ thể đã bị nhiễm bệnh. Hai má đỏ rực, chứng tỏ nhiệt lượng trong cơ thể suy giảm, nếu mặt lưỡi đỏ rộp, xuất hiện nhiều vết ban đỏ, cho thấy bệnh đã chạy vào tim. Hai má đen, trắng, xanh, xanh lam, khô khan, chứng tổ bệnh tương đốì nặng nếu để lâu ngày rất khó điều trị, thậm chí dẫn đến tử vong, Hai má có nhiều vết bạn chìm xuông dưới da cho thấy chức năng hấp thụ của đường tiêu hoá suy giảm hoặc gặp trở ngại.
Phía dưới cằm có nhiều râu thường là người chính trực, râu trắng thường là người hiền từ, râu có màu nâu đỏ là người dữ dằn, râu màu vàng nhạt là người nho nhã, râu hoa là người dũng mãnh. Người có mũi to, màu vàng, trơn bóng thường rất khoẻ mạnh. Nếu sống mũi có màu xanh là người dễ mắc bệnh, màu đỏ thẫm và sáng trên sống mũi là dấu hiệu của bệnh trĩ. Sống mũi có màu đen xám thường cho thấy bệnh mãn tính ở hệ thống hô hấp. Mũi tượng trung cho phổi và liên quan đến dạ dày, lá lách, gan, tim... do vậy mũi có màu xanh đen chứng tỏ các khí quan trên đều có bệnh. Môi đỏ hồng cho thấy người này rất khoẻ mạnh, môi trắng bạch âm khí trong cơ thể suy nhược, môi thâm đen bệnh nguy kịch, môi tím khí huyết bị cản trở, chức năng của tim và hệ thống tuần hoàn máu gặp trở ngại. Môi khô và đỏ, cơ thể nóng trong, dấu hiệu của bệnh viêm nhiễm.
Nghiên cứu mới nhất của một Trung tâm nghiên cứu y học nổi tiếng của Mỹ cho thấy, từ tuổi 45 trở lên có dấu hiệu đau ngực và các dấu hiệu khả nghi khác, nếu thấy xuất hiện nếp nhăn trên dái tai, thì có tới 90% cho thấy người này bị sơ cứng động mạch vành. Hiện nay, ở Trung Quốc bắt đầu chú trọng đến việc nghiên cứu mối quan hệ giữa nếp nhăn và bệnh tim. Sau khi nghiên cứu đối với 292 ví dụ về người già mắc bệnh liên quan đến hệ thống tuần hoàn máu ở tim, tỷ lệ người già có nếp nhăn ở dái tai là 85,6%, trong số 40 ví dụ về bệnh nhân vừa bị huyết áp cao, vừa bị bệnh tim có tới 90% số người có nếp nhăn là 95%. Nếp nhăn trên dái tai rất dễ phát hiện, có tác dụng nhất định trong chẩn đoán lâm sàng. Những người trung niên và người già nên thường xuyên dùng gương để soi tai của mình, nếu phát hiện thấy trên dái tai có nếp nhản thì có khá năng mắc bệnh tim.
Mật mà sinh mệnh thể hiện ở các phần của khuôn mặt
Trán
Trán tượng trưng cho trí tuệ, tuổi thọ. Trán được tính từ lông mày trở lên, từ chỗ mọc tóc trở xuống và từ hai bên mai trở vào. VỊ trí lồi lên ở hai bên trán chính là đầu khớp xương trán. Nếu ở vị trí chính giữa trán xuất hiện vết lõm nhẹ, cho thấy người này thời trẻ đã phải chịu nhiều khổ cực, cuộc sống vất vả, gặp nhiều hoạn nạn, thời niên thiếu dinh dưỡng không đủ, phát triển không tốt nôn đã đê’ lại dấu vét này. Những người trán cao và rộng, dù là nam hay nữ, đa phần là rất thông minh, đại não phát triển, tư duy nhanh nhẹn. Đỉnh trán có đường giới hạn, hất về phía sau và trán dài cho thấy người này sống rất trường thọ. Trán rộng, rô và dài vừa là người có trí tuệ vừa trường thọ, tinh lực dồi dào. Những người này thường gầy gò, chắc nịch, các bức tranh về tiên ông trong dân gian thường vẽ những ông tiên có trán rộng, dài. Trán ngắn và thấp, thường là người nhu nhược nhưng ôn hoà và lương thiện. Tuy nhiên, người có trán quá hẹp và ngắn, thường là người đần độn bẩm sinh.
Má
Má là cung vị cúa tim và phối, xương gò má tượng trưng cho cá tính. Xương gò má càng cao cá tính càng mạnh mẽ. Má cao tức xương gò má có hình khuê giác, tài năng bộc lộ rõ, nóng tính, bướng bính, buông thả. Nếu má cao và tròn, mặc dù có cá tính nhưng có thế tuỳ cơ ứng biến, tương đối tròn trịa. Xương gò má ẩn và không rõ, thường là người không có cá tính, mềm yếu, nam mát đi sự ôn hoà nhưng là người lương thiện, nữ dịu dàng, hiền hậu, biết chăm sóc người khác, tâm lý, chu đáo.
Quan niệm của người xưa: "Nam gò má cao là bậc anh hào" hoặc "Nữ gò má cao, sát chồng không cần dao". Nghĩa là nữ giới gò má cao tính tình nóng nảy, hung dữ, khó sông với người khác. Người vợ và con dâu kiểu này dễ làm mất lòng mọi người trong gia đình, nhưng người phụ nữ này làm việc rất chàm chỉ, xuất sắc, có năng lực thực sự, giỏi hơn nam giới. Đối với những người chồng kém cỏi, rât cần một người vợ như thê này.
Đường vân quyền lực
Đường vân quyền lực thề hiện uy lực, quyền thế của một người. Hai đường vân xuất phát từ cánh mũi và cong xuống dưới gọi là đường vân quyền lực. Đường vân quyền lực có ba ý nghĩa: Có địa vị quyền lực trên chính trường; rất quan tâm đến gia đình, có uy tín và vai trò quan trọng trong gia đình; thành công trong sự nghiệp. Hiện tại phụ nữ có rất nhiều cơ hội phát huy tài năng của mình trong các lĩnh vực, có thể đạt được những thành tích rất cao. Phụ nữ có đường vân quyền lực rõ ràng thường là người có tài năng quản lý và năng lực tổ chức, khả năng điều hành, là dấu hiệu của nâng lực thực tê. Dù là nam hay nữ, nếu có đường vân quyền lực rõ nét, nhất định là một người lãnh đạo tài năng hoặc là người có thành tích rất nổi bật trên một phương diện nào đó. Đường vân quyền lực không rõ nét, thiếu sự cởi mở, tính tình ôn hoà, là người bình thường, không có gì nổi bật.
Nhân trung
Nhân trung tượng trưng cho con cai. nhân trung cung vị cùa họ thống sinh dục, đô'i với nữ thì nhan trung còn tương trưng cho tứ cung. Thông thường moi ngươi đều cho rĩìng nhân Hung càng <111 thì con cái cang nhiổu. nhân trung càng nông thì con cái càng ít. Theo kinh nghiôm cua chung toi, nhân trung sáu thường sinh con trai; nhân trung nong thương sinh con gái, nhân trung rộng thương có nhiều con, ty lợ chứng minh tròn thực tè rât cao. Nhân trung phía tròn hẹp, phía dưới rộng thì nhiều con cháu, cá trôn và dưới nhân trung đều hẹp nhưng chính giữa nhân trung rộng thì con cháu sẽ rât khổ, cá trên và dưới nhân trung đều thẳng và đầy đặn con cháu đầy nhà, cả trên và dưới nhân trung đều bằng phẳng và nông con cháu hiếm muộn; nhân trung gẫy khúc thường là người không trọng tín nghĩa; nhân trung thẳng là người trọng tín nghĩa.
Cằm
Cằm tượng trưng cho sự may mắn về già và nghị lực. Ngươi có cằm dài và rộng thường được hưởng phúc về già và may mắn. Người có càm quá nhọn và hẹp, viễn cảnh về già không tốt. Phụ nữ khuôn mặt hình trái xoan có cằm nhỏ thường là người rất xinh, khéo léo, nhanh nhẹn. Thời trẻ rất đẹp, có sức hấp dẫn. Nếu lấy phải những người chỉ thích sắc đẹp thì khi về già cô gái này sê rất khổ, vất vả, hay còn gọi là "hồng nhan bạc mệnh", bởi vì khi đó cô gái đã mất đi vẻ đẹp của mình.
Người có cằm hai ngấn thường là người có khả năng rất tốt trong việc hoá giải nguy hiểm, biến dữ thành lành, ngay cả khi bị dồn đến bước đường cùng họ vẫn tìm được lôi thoát, dường như có thần trợ giúp, nên mọi khó khăn đều tự nhiên được giải quyết. Xương cằm lộ rõ ra ngoài, có hình chữ "Sơn" cho thấy đây là người rất có nghị lực, khắc khổ, luôn tự phấn đấu, từ nhỏ đến khoảng 40 tuổi rất vất vả, khổ cực, nhưng nhờ sự nỗ lực phấn đấu vươn lên, sau này trở thành một người thành công, có quyền lực và đạt được những thành tựu nổi bật trên một lĩnh vực nào đó, cằm hình chữ "Ư" thường là người cương trực; cằm tròn thường là người ôn hoà.
Quai hàm
Quai hàm tượng trưng cho dũng khí. Quai hàm rộng thường là người dũng cảm, mạnh dạn, can đảm có khả năng đảm đương được việc lớn, không sợ việc, có sức hấp dẫn, quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, xông xáo, đám mạo hiểm, có tinh thần cởi mở. Tuy nhiên người có quai hàm to thường tính phản kháng cũng rất mạnh, đặc biệt đối với những người trong lòng bàn tay có đường vân phản kháng hoặc đường sinh mệnh và đường trí tuệ phân cách hoặc có đường vân xuyên suốt toàn bộ bàn tay... thì biểu hiện tính phản kháng càng rõ nét. Người này thường rất mạnh dạn, dũng cảm, quyết đoán trong công việc, nhìn từ phía sau gáy thấy quai hàm bè sang hai bên chính là dấu hiệu của tính cách này. Quai hàm to, xương gò má cao thì tính cách này càng nổi bật. Do đó những người quai hàm to khi làm việc không được làm liều, mạnh dạn nhưng phải khoa học, phải biết kiềm chế, điềm đạm và phải có mưư cao, như vậy thì làm việc gì cũng thành công, tỷ lệ thành công trong sự nghiệp rất cao.
Mật mã sinh mệnh thể hiện trên tổng thể khuôn mặt
Tổng luận về mật mã trên khuôn mặt
Mật mã trên khuôn mặt chỉ đặc trưng tổng thể.của phần đầu người, là ngắn hay dài, là vuông hay tròn, là gầy hay béo... khoảng cách từ vị trí có tóc mọc đến phía trên lông mày gọi là "Thượng đình ', từ lông mày đến mũi gọi là "Trung đình", từ mũi đến nhân trung và cằm gọi là "Hạ đình". Khùôn mặt được coi là phú quý nếu cả ba "Đình" này phải tương xứng với nhau và đầy đặn, một trong ba "Đình" đó bị khác thường thì khuôn mặt chưa hoàn thiện. Điều đó có nghĩa là, sự to nhỏ, dài ngắn, dầy mỏng, cao thấp, rộng hẹp... của các khí quan trên khuôn mặt và hình dáng cơ bản của khuôn mặt đều lấy tỷ lệ của các bộ phận của cơ thể làm tiêu chuẩn, không cần đưa ra một chỉ số được phân tích theo định lượng, nhưng cũng phải có một chuẩn mực nhất định, vượt qua chuẩn mực đó bao nhiêu thì bị coi là to, dài... kém chuẩn mực đó bao nhiêu thì bị coi là mỏng, thấp.... đây là cách tính mang tính thực tế, không phải là cách thức quan sát nghiên cứu sự vật của người phương Đông. Người phương Tây thường đưa ra một chỉ số chuẩn mực, sau đó sử dụng máy tính để tính toán, đây là cách tính theo chủ nghĩa duy vật máy móc của người phương Tây. Trong thuật tướng số của người phương Đông không thể sử dụng phương pháp đổ mà tất cả đều mang tính ước lượng, không đòi hỏi độ chuẩn xác cao về mặt số đo.
Tóm lại, các bộ phận trên khuôn mặt phải phối hợp hài hoà, bộ phận này không thế to hơn hoặc nhỏ hơn bộ phận kia. Ví dụ người có mũi cao thì ắt là người thông minh, phú quý, nếu cái mũi đó mọc trên khuôn mặt nhỏ, các bộ phận khác trên khuôn mặt có kích thước không phù hợp với cái mũi đó thì cũng không phải là khuôn mặt đẹp, hài hoà. Thuật tướng số của người phương Đông thường dựa vào tướng mạo để luận phúc, lộc, thọ của một người, mà khồng nói tại sao tướng mạo này lại được coi là phúc, lộc, thọ; tướng mạo kia không được coi là phúc, lộc, thọ. Do đó, trong khi luận tướng mạo không thể tránh khỏi những quan niệm mang tính trừu tượng. Tướng số học hiện đại, nghiên cứu hình thức biểu hiện các trạng thái thông tin sinh mệnh trên cơ thể xuất phát từ các phương diện di truyền học bẩm sinh, sinh lí học, tâm lí học và giáo dục học, dinh dưỡng học...., như vậy đã loại bỏ đi những thành phần võ đoán trong tướng số học cổ đại, khảng định kinh nghiệm quan sát và kinh nghiêm trực giác của người đi trước, đưa ra những lý giải mới, cũng chính là nhằm phát triển tướng số học nguyên bản trước đây.
Hình 30: Mật ma sình mệnh thể hiện trên khuôn mặt
Một khuôn mặt phú quý phái là khuôn mặt có tưóng mạo đoan trang, đạo mạo, khí hoà; kị nhàt là khuôn mặt nghiêng lệch, khuôn mặt không cân đối, khuồn mặt thần sắc u ám, gầy guộc.
Khuôn mặt hình chữ “Đồng” ()
Khuôn mặt hình chữ “Đồng” í ["] ) hay còn gọi là khuôn mặt hình chữ "Quôc". Khuón mặt này có ba "Đình" cân đối nhau, hình chữ nhật (H) . Ba "Đình" dài và rộng, ngũ quan đầy đặn, dầy, có góc cạnh. Đây là khuôn mật phú quý. Những người có khuôn mặt này, thường là người chính trực tâm trong sáng, có uy lực, cá tính mạnh mẽ, làm việc tích cực, cương trực, thưởng phạt phân minh, tinh lực dồi dào, hợp với lĩnh vực chính trị, quản lý, thường là nhân vật trung tâm nổi bật hoặc là nòng cốt của một tổ chức hoặc một nhóm người nào đó, đặc biệt đối với những người có đường vân xuyên suốt lòng bàn tay, đường tình cảm của tay trái và tay phải kéo dài đến phía dưới của ngón trỏ chia thành hai nhánh, một nhánh hướng lên trên và một nhánh hướng xuôhg dưới, gò của ngón trỏ đầy đặn... thì tính cách trên càng rõ nét hơn, đa số là người thuộc hành Thổ.
Người có khuôn mặt hình chữ “Đồng” thường là người cơ bắp, trí lực và tinh lực hài hoà. Người gầy gò có khuôn mặt này cũng rất tốt, có tính quyết đoán, hiệu quả làm việc cao. Người to béo có khuôn mặt này thường là người theo chủ nghĩa quan liêu, tự cao tự đại, không làm được việc gì, thiếu chí khí, giỏi luồn lách, ứng biến. Người có khuôn mặt hình chữ “Đồng” thường là người có hình dáng cao (Hình 30-(10)).
Mặt vuông chữ điền (ffl)
Mặt vuông chữ điền (ffl) là khuôn mặt vuông vắn. Khuôn mặt này ngắn hơn so với khuôn mặt hình chữ đồng, ba "Đình" ngắn và rộng, khuôn mặt rộng, dầy đặn, sáng sủa, tròn trịa, được coi là khuôn mặt của sự phú quý. Đặc trưng chủ yếu của khuôn mặt này đó là hình dáng khuôn mặt và các bộ phận trên khuôn mặt đều vuông vắn trong khuôn mặt tròn trịa, tính tình ôn hoà, độ lượng, khoan dưng, lương thiện, tương đối trung hậu, có duyên, quan hệ xã giao tốt, vui vẻ giúp đỡ người khác, giàu lòng đồng cảm. Khả năng ứng biến rất tốt, sống nội tâm, ẩn vào bên trong, có mưu lược, phù hợp với các lĩnh vực chính trị, quản lý, đặc biệt là công việc trợ lý, không hợp với những công việc độc lập, đơn thương độc mã, nếu muốn độc lập tiến hành một công việc phải có một trợ lý đắc lực. Người có khuôn mặt này thường rất phúc hậu, độ lượng. Luôn bảo vệ cấp dưới, có trách nhiệm với cấp trên, do đó rất phù hợp với những công việc cụ thể và công việc liên quan đến kỹ thuật, công tác nghiên cứu. Đặc biệt đôi với những người có đường trí tuệ dài, hướng xuống dưới và đoạn đầu có hình lông cánh, đoạn cuối của đường tình cảm hướng xuống dưới và dài thì tính cách trên càng thể hiện rõ nét hơn. Mặt vuông chữ điền thường thấy ở những người có cơ bắp chắc chắn và to béo. Thường thuộc nhóm người hành Thuỷ và hành Thổ (Hình 30-(2)).
Khuôn mặt hình chữ mục (0)
Mặt hình chữ mục (II) thường dài hơn khuôn mặt hình chữ đồng, là biến thể của khuôn mặt hình chữ đồng. Khuôn mặt này có trán cao và hẹp, cằm hẹp và dài, đặc trưng của các bộ phận trên khuôn mặt giông như khuôn mặt hình chữ đồng, nhiều bộ phận vuông vắn và có góc cạnh. Những người có khuôn mặt này thường có thân hình cao, khôi ngô, trường thọ, thường thấy ở những người có cơ bắp phát triển vừa phải (Hình 30-(3)).
Người có khuôn mặt hình chữ mục đa số đều có một đặc trưng đó là khéo tay hoặc có những nghiến cứư tương đối sâu sắc về một sự vật, học vấn, kỹ nghệ nào đó. Đường trí tuệ của người này thẳng, kéo dài đến gò Nguyệt, có năng khiếu nghệ thuật, người có đường trí tuệ thẳng và kéo đài đến gò Hoả tĩnh thứ hai thường là người có năng khiếu về khoa học kỹ thuật. Người có khuôn mặt hình chữ mục thường có tính cách mạnh mẽ, tự phấn đấu vươn lên, ý trí kiên cường. Không thích sự nhàn rỗi, luôn động chân động tay, tìm thấy niềm vui trong sự bận rộn của công việc, đại đa số là người thuộc nhóm hành Thổ.
Khuôn mặt hình chữ nhật (H)
Khuôn mặt hình chữ nhật (H) là khuôn mặt hình chữ đồng nhỏ. Biếii thể của khuôn mặt hình chữ nhật là hình chữ vương (ĩ) . Tất cả những người có khuôn mặt hình vuông, có xương nhung không có thịt gọi là khuôn mặt hình chữ vương (i) , thường thấy ở những người tâm tính. Người có khuôn mặt hình chữ nhật hoặc hình chữ vương thường là người cơ mưu, tính toán, nhạy bén hơn người, bận rộn vất vả, thích ổn định, hơi tham lam, đôi khi tự ti, hiếu thắng, do công việc quá bận rộn nên thường bị mệt mỏi, ý tưởng râl nhiều nhưng lực không đủ, lực bất tòng tâm, cảm thấy mệt mỏi. Cuộc sống có nhiều biến đổi thăng trầm, khó khăn, nhưng trước sau như một luôn phấn đấu hết mình, cuối cùng cũng đạt được kết quả. Thường là người thuộc nhóm hành Mộc (Hình 30-(4)). Những người có khuôn mặt này, cần phải biết lượng sức mình, nếu không sẽ quá mệt mỏi dẫn đến bệnh tật.
Khuôn mặt hình chữ phong (K)
Khuôn mặt chữ phong (1x0 là biến thể của khuôn mặt hình chữ đồng () . Tất cả những người có trán rộng, cằm rộng và đầy đặn, khuôn mặt có trung đình hẹp, được gọi là khuôn mặt hình chữ phong (R). Những người này thời niên thiếu không có buồn phiền, về già phú quý, thời kỳ trung niên vất vả. Khoan dung, độ lượng với người khác, thông minh, nhưng chậm chạp, thiếu sự nhạy bén, thường là người thuộc nhóm hành Thổ (Hình 30-(5)).
Khuôn mặt hình chữ dụng (ffl)
Người có khuôn mặt hình chữ dụng (ffl) là khuôn mặt hình chữ đồng bị lệch. Những người có khụốn mặt không đoan chính đều là khuôn mặt hình chữ dụng. Đa sô thượng đình và trung đình có hình vuông, trong đó bên trái hoặc bên phải hạ đình hơi nghiêng, hoặc bên phải hẹp, bên trái đầy đặn, hoặc bên phải đầy đặn bên trái hẹp. Những người có khuôn mặt này thường có nhiều nhược điểm về tính cách, luôn tỏ ra là người cô' chấp, có tính khuynh hướng rõ rệt, có trình độ sâu sắc về một lĩnh vực nào đó, đôi lúc đi vào chỗ bế tắc, luôn đưa ra ý tưởng độc đáo mà người bình thường không có. Nếu lông mày thanh mảnh, đen, ánh mắt sáng rực, trán rộng, cho thấy người này nhất định sẽ thành công trong một lĩnh vực nào dó. Nếu lông mày thưa, phân tán, ánh mắt không mấy sáng sủa, trán rộng thường là người hay mệt mỏi, chán nản, mặc dù tư chất thông minh nhưng không làm được việc gì xuất sắc, nếu chịu khó hơn và làm việc theo kê hoạch thì nhất định sẽ thành công. Đa sô' là người thuộc nhóm hành Thổ (Hình 30-(5)).
Khuôn mặt hình chữ giáp (^)
Khuôn mặt hình chữ giáp (ĩp) , trên rộng dưới hẹp, trán rộng, cằm nhỏ, hữu thiên vô địa, hay còn gọi là khuôn mặt hình quả dưa hoặc khuôn mặt hình quả trứng thiên nga. Những người có khuôn mặt này nếu là nữ thì thường là người xinh đẹp, dễ thương, có sức hấp dẫn. Nếu sử dụng sắc đẹp để quyến rũ người bạn đời thì khi về già sắc đẹp không còn nữa sẽ rất khổ, kiểu người này còn gọi là "hồng nhan bạc mệnh". Nếu là nam thường là người không có nam tính, yếu đuối, thiếu quyết đoán, tính tình mềm yếu, lòng dạ hẹp hòi, thiếu dũng khí, luôn dựa dẫm ỷ lại vào người khác. Đa số là người thuộc nhóm hành kim (Hình 30-(6)).
Khuôn mặt hình chữ do (Ẻ)
Khuôn mặt hình chữ do (Ẻ), trên hẹp dưới rộng, trán hẹp, hai má đầy đặn, xương quai hàm to, tỷ lệ trên và dưới không cân đô'i, trên quá nhỏ, dưới quá to là khuôn mặt dữ. Nếu là người có cơ bắp, mặt nhiều thịt thì biểu hiện trên càng rõ nét, nếu gặp kiểu người này sẽ khiến mọi người rất đau đầu. Loại người này thô bạo vô học, nguy biện, tâm địa đen tối, đố kị, thích dùng vũ lực, không sống theo đạo lý, không khuyên bảo bằng lời lẽ được, nhưng họ là người rất nghĩa hiệp nếu như được đỗi xử tốt.
Người có khuôn mặt hình,chữ do, nếu thượng đình không quá hẹp, gần với trung đình thì rất tốt, cũng là khuôn mặt phúc hậu. Những người có khuôn mặt này thường là người béo, nhưng cơ thịt trên khuôn mặt phải mọc từ trên xuống, không được mọc ngang. Những người này thường trung hậu, linh tính không tốt, mọi việc đều bình thường, tính tình ôn hoà, tấm lòng luôn rộng mở, cơ thể béo mập, dái tai tròn, mặt mũi hiền lành, vui vẻ hoà nhã. Thông thường những người này không mấy phát triển trong sự nghiệp, khả năng tự bảo vệ tương đối kém. Kiểu người này, mặc dù không có tâm địa hại người, nhưng không thể không có tâm lý đề phòng với người khác, vì nếu như vậy vô hình chung trở thành vật hy sinh. Người có khuôn mặt hình chữ do đa sô' là người thuộc nhóm hành Thổ.
Khuôn mặt hình chữ trung (41)
Người có khuôn mặt hình chữ trung (ct3)hay còn gọi là khuôn mặt hình chữ thân (í) phần trên và dưới của khuôn mặt hẹp, phần giữa rộng. Những người này, thời niên thiếu khó khăn vất vả, thời thanh niên cuộc sống tương đối tốt, nhưng do thời thanh niên sống không tốt, lại kém thông minh, thời kỳ trung niên được sống sung túc vui vẻ một thời gian, khi về già gặp nhiều khó khăn vất vả, đây là kiểu dáng khuôn mặt xấu nhất trong số các khuôn mặt trên. Người có khuôn mặt này thường tương đối ích kỷ, đặc biệt đối với những người tai nhỏ và không có dái tai, lông mày thưa, nhạt thì biểu hiện trên càng rõ nét hơn. Khuôn mặt khắc khổ, cũng rất xung khắc với nhiều người, bởi vì người này sống rất ích kỷ, cay nghiệt, vô tình vô nghĩa, tự cho rằng mình đúng trong tất cả mọi việc, làm việc không thấu tình đạt lý, cá tính mạnh mẽ, rất dễ làm những việc khiến người khác không thể chịu nổi, do đó quan hệ xã giao rất kém, gia đình không hoà thuận, họ đi đến đâu thì ở đó xảy ra chuyện rắc rối. "Xung khắc" với người khác tức là gây phiền toái và tai hoạ cho người khác, tính cách đó của họ được hình thành bẩm sinh. Khi kết giao với những người này cần phải đặc biệt thận trọng, khi bị những người này hăm hại bạn phải trả giá rất dắt. Người có khuôn mặt hình chữ trung đa số là người thuộc hành Hoả (Hình 30-(8)).
Khuôn mặt hình chữ tứ (H)
Khuôn mặt hình chữ tữ (Gg) không được nhắc đến nhiều trong sách tướng số, khuôn mặt này có chiều ngang rộng, ba "Đình" từ trên xuống dưới thường rất ngắn, đa số xương quai hàm ở giữa nhô cao, đây là kiểu khuôn mặt biến thể của khuôn mặt hình chữ trung. Người có khuôn mặt này thường là người xấu, ương bướng, đa sô' là dáng người cơ bắp hoặc người tâm tính, thân hình tương đối thấp và nhỏ, hành vi chặt chẽ, kỳ quặc, thường có tâm lý biến thái, lòng dạ độc ác, không thể không đề phòng, đặc biệt đô'i với những người có tiếng nói như lang sói hoặc là nam giới nhưng giọng nói như nữ giới hoặc là nữ giới nhưng giọng nói lại như nam giới thì đặc điểm trên càng rõ nét hơn.
Tóm lại
Tất cả những khuôn mặt trên đều mang tính chất tương đô'i, cần phải đánh giá kết hợp với lông mày, mắt, tai, mũi, miệng... để phán đoán tâm tính của một người. Tướng sô' là dấu hiệu của tâm tính, nhưng ngoài tướng mạo ra, dấu hiệu của tâm tính còn có hành vi, giọng nói... Các tướng mạo và tính cách bổ sung cho nhau, do đó trong tướng mạo thể hiện tính cách độc ác có ẩn chứa tướng mạo thể hiện sự lương thiện, trong tướng mạo thể hiện sự lương thiện có ẩn chứa tướng mạo thể hiện tính cách độc ác, đó là nguyên lý thường tình, đều xuất phát từ bản năng lòng tự trọng và khả năng tự vệ của con người. Bởi vậy, tướng mạo dữ dằn, tâm tính lương thiện hoặc không hẳn là lương thiện vẫn có thể trở thành người quân tử, ngược lại người có tướng mạo tốt nhưng tâm tính hiểm ác thì vẫn là kẻ tiểu nhân.
Có người quan niệm rằng: "Nước biển khó đong, lòng người khó lường" muốn nói đến sự không phù hợp giữa tâm tính và tướng mạo, không thể chỉ đơn thuần dựa vào tướng mạo để phán đoán tính cách của một người là tốt hay xấu, là lương thiện hay độc ác. Trong tác phẩm "Phi tướng thiên", Tuân Tử cho rằng tướng mạo của con người dài ngắn, to nhổ, lương thiện hay độc ác... không đáng tin cậy, điều đáng tin cậy nhất chính là cái tâm của con người, phán đoán phẩm chất hành vi của con người thông qua việc tìm hiểu và nắm bắt cái tâm của họ, sai lầm ở chỗ Tuân Tử đã đối lập giữa tâm và tướng.
Như trên đã nói, tâm tướng sô học và khoa học nghiên cứu về dấu hiệu thông tin sinh mệnh coi tướng mạo - một nhân tố thực tế vốn có khách quan là hình thức thể hiện bên ngoài của trạng thái chức nảng sinh mệnh và tâm tính, là đối ứng, quan hệ đôi ứng này được xây dựng trên cơ sở quy luật âm dương tương hợp, tương sinh và tương khắc lẫn nhau, do đó trong cái thiện có cái ác, trong cái ác có cái thiện, trong cái đẹp có cái xấu, trong cái xấu có cái đẹp, hành vi và lời noi cũng là một loại dấu hiệu của sinh mệnh, do đó không nên tin vào lời của thầy bói, tin vào họ bạn sẽ sai lầm.
Mật mã sinh mệnh thể hiện qua khí sắc của khuôn mặt
Khi xem xét một khuôn mặt, trước tiên phải xem tổng thể xương của khuôn mặt, tiếp đó là tam đình (từ trán đến vai, từ lống mày đến mũi, từ mũi đến cằm được gọi là tam đình), tiếp đó là đến ngũ quan, khí sắc và cuôì cùng là xem diễn biến của cuộc sông. Cốt cách quyết định xu hướng tính cách tổng thể của con người, khí sắc thể hiện trạng thái sinh mệnh của con người theo năm tháng. Thời niên thiếu không hợp với gam màu khô, về già không hợp với gam màu non nớt. Màu sắc khô khan chứng tỏ khí huyết mất cân bằng, sẽ sinh ra nhiều bệnh. Màu sắc non nớt khí huyết cũng mất cân bằng, dư thừa dẫn tới các bệnh 'huyết áp cao, viêm phổi, viêm gan, mặt đỏ hồng hào... màu sắc trơn bóng và sáng sủa thể hiện bệnh phù thũng, đều là dấu hiệu ác tính về trạng thái của bệnh, thường có bạo bệnh, không thể không chú ý. Khí sắc phù hợp với thiếu niên nhi đồng là hồng hào dịu mắt, tướng mạo phải đứng đắn đoan trang.
Tóc mềm, đen và óng ánh cho thấy trạng thái sức khoẻ tốt, tinh lực xung mãn. Tóc dầy và vàng là dấu hiệu của hiện tượng thiếu chất dinh dưỡng, sức sống không mạnh. Tóc cứng và thô ráp, máu nóng, sinh nhiệt ở gan. Tóc vàng và thưa, trán rộng thường là người thông minh. Tóc thẳng và mềm thể hiện người này ưa nhẹ không ưa nặng, tính tình ngang bướng.
Tóc của nam giới cứng được coi là tốt, tóc của nữ giới mềm được coi là đẹp. Tóc của nam giới đen như sơn, dầy, óng mượt, thận khí sung mãn, dương khí đầy đủ. Tóc của nam giới mềm và mịn, tính tình mềm yếu, nhát gan. Tóc của nữ giới màu đen tơ hoặc màu vàng tơ, mềm mại óng mượt thường là người hiền thục, trí tuệ, thận khí sung mãn, khả nâng sinh dục mạnh. Tóc của nữ thô như cỏ khô, thường là người tính tình thô thiển, tâm địa xấu xa, chua ngoa, độc ác. Những người có tóc vàng, mặG dù có 5 màu sắc phân biệt kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ, nhưng màu vàng vẫn là chính, cho thấy khí huyết sung mãn, trong đó màu đỏ xen lẫn với màu vàng và trơn bóng, sạch sẽ thể hiện sự khoẻ mạnh.
Màu hồng cho thấy huyết mạch sung mãn, màu vàng thể hiện chính khí và là màu sắc chính, trơn bóng thể hiện sự lưư thồng của hệ thống tuần hoàn máu, sự sạch sẽ thể hiện chính khí hài hoà. Do vậy, sự tốt hay xấu của trạng thái sinh mệnh đều được thể hiện qua khí sắc của khuôn mặt, đều có liên quan mật thiết đến trạng thái chức năng của cơ thể và lục phủ ngũ tạng. Hệ thống thông tin sinh mệnh này đã được người xưa vận dụng vào trong y học từ kỷ nguyên trước. Dân gian tương truyền: 'Vận mệnh tốt hay xấu thể hiện ở khí sắc của các bộ phận". Tức là, khí sắc của các bộ phận tượng trưng cho trạng thái chức năng của lục phủ ngũ tạng, sắc mặt hồng hào chứng tỏ khí huyết sung mãn. Mặt vàng chúng tỏ cơ thể thiếu dinh dưỡng. Mặt xanh nhợt, vừa trắng vừa có màu tro cho thấy bệnh đã xâm nhập vào nội tạng, gây nguy hiểm đến tính mạng.
Người xưa quan niệm: "Mặt xanh thì bệnh tình nguy hiếm, mặt không có màu đỏ của máu chứng tỏ bệnh nặng hơn, mặt có màu hoa mai vàng chứng tỏ bệnh trầm trọng, mặt có màu đen chứng tỏ trong người lúc nào cũng có bệnh; mặt có màu đỏ lòng đào chứng tỏ đây là người háo sắc". Đây là những kinh nghiệm người xưa rút ra trong thực tiền cuộc sông. Khí sắc có màu hồng, vàng, trơn và sạch sẽ được coi là tốt; khí sắc kị với màu đỏ rực, đen và tối màu. Màu đỏ rực chứng tỏ gan nhiệt tăng, tâm lý mất thăng bằng dễ nổi nóng. Màu trắng bạch cho thấy nguyên khí của cơ thể bị tổn thương, cơ thể suy nhược, suy giảm hệ thống miễn dịch, bệnh tật sẽ tấn công cơ thể, gây bệnh cho các cơ quan của lục phủ ngũ tạng. Màu xanh lẫn với màu tro cho thấy hệ thông thần kinh bị tác động mạnh, gây hoảng loạn tinh thần, không kiểm soát được hành vi. Màu xanh lam cho thấy bệnh tình nguy kịch hoặc cơ thể quá suy nhược hoặc sắp gặp hoạ lớn có thể phải vào tù.hoặc sắp sang thế giới bên kia.
Người có da màu vàng lẫn với màu đỏ tạo thành màu tím, trong màu vàng có màu tím tượng trưng cho "Vận may”. Vận may vốn chỉ "Vân ngũ sắc". Nếu trên trán có vết màu vàng xen lẫn với màu tím, giống như hình những bông hoa nhỏ hoặc hình hạt đậu chứng tỏ người này sắp có "vận may". Dâu hiệu đó xuất hiện ở vị trí nào thì vị trí đó sẽ có điềm lành.
Chính sắc, chính khí không đủ chứng tỏ khí trong người bị tắc nghẽn, điều đó có nghĩa là khí huyết bị cản trở, không lưư thông, ngưng tụ tại một chỗ. Gam màu tối cho thấy âm khí trong người rất nặng, ví dụ màu nâu, màu tím, màu xanh thẫm, màu thổ hoàng, màu tro thẫm, màu vàng thẫm.... đều cho thấy khí trong người quá nặng dẫn đến bị tắc nghẽn. Người bị tắc nghẽn khí thường có biểu hiện đờ đẫn như người buồn ngủ hoặc người say, vừa buồn phiền vừa đau khổ, cử chỉ rpệt mỏi, giọng nói như người hết hơi. Khí trong người bị tắc nghẽn có nguyên nhân từ đinh dường, nguyên nhân tinh thần và nguyên nhân bẩm sinh (nguyên nhân di truyền)...
Lông mày thanh mảnh và đen được coi là lông mày đẹp, mắt đen, lòng trắng lòng đen rõ ràng, ánh mắt sáng được coi là mắt đẹp. Mắt đỏ rực chứng tỏ trong người có bệnh nặng, ánh mắt ướt át cả nam và nữ đều rất đa tình. Nước mắt đọng lại trong hốc mắt cho thấy khả năng sinh dục mạnh, nếu có thai thì sau nửa tháng có thể thấy được dấu hiệu này. Nước mắt đọng lại quá nhiều trong hốc mắt, màu sắc trên mặt khô khan, nhiều nếp nhăn, mũi to quắp xuống dưới, nhân trung bằng phẳng thường là dấu hiệu của bênh vô sinh.
Hai má đầy đặn, hồng hào, tâm khí sung mãn, thần thái tự tin, sức khoẻ tôi. Hai má màu xanh nhạt lẫn với màu trắng chứng tỏ cơ thể đã bị nhiễm bệnh. Hai má đỏ rực, chứng tỏ nhiệt lượng trong cơ thể suy giảm, nếu mặt lưỡi đỏ rộp, xuất hiện nhiều vết ban đỏ, cho thấy bệnh đã chạy vào tim. Hai má đen, trắng, xanh, xanh lam, khô khan, chứng tổ bệnh tương đốì nặng nếu để lâu ngày rất khó điều trị, thậm chí dẫn đến tử vong, Hai má có nhiều vết bạn chìm xuông dưới da cho thấy chức năng hấp thụ của đường tiêu hoá suy giảm hoặc gặp trở ngại.
Phía dưới cằm có nhiều râu thường là người chính trực, râu trắng thường là người hiền từ, râu có màu nâu đỏ là người dữ dằn, râu màu vàng nhạt là người nho nhã, râu hoa là người dũng mãnh. Người có mũi to, màu vàng, trơn bóng thường rất khoẻ mạnh. Nếu sống mũi có màu xanh là người dễ mắc bệnh, màu đỏ thẫm và sáng trên sống mũi là dấu hiệu của bệnh trĩ. Sống mũi có màu đen xám thường cho thấy bệnh mãn tính ở hệ thống hô hấp. Mũi tượng trung cho phổi và liên quan đến dạ dày, lá lách, gan, tim... do vậy mũi có màu xanh đen chứng tỏ các khí quan trên đều có bệnh. Môi đỏ hồng cho thấy người này rất khoẻ mạnh, môi trắng bạch âm khí trong cơ thể suy nhược, môi thâm đen bệnh nguy kịch, môi tím khí huyết bị cản trở, chức năng của tim và hệ thống tuần hoàn máu gặp trở ngại. Môi khô và đỏ, cơ thể nóng trong, dấu hiệu của bệnh viêm nhiễm.
Nhận xét
Đăng nhận xét