HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ THôNG TIN CỦA KHU Vực TẠO THÀNH TƯỚNG MỆNH



HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ THôNG TIN CỦA KHU Vực TẠO THÀNH TƯỚNG MỆNH

Về bản chất của sinh mệnh, con người là một cơ thể sống, là hình thức đối ứng của sinh mệnh vũ trụ và trong quá trình giao hoà âm dương với con người, hàm chứa các quy luật và mô thức cơ bản của sinh mệnh và vũ trụ. Sau khi “bà mụ” càn cứ vào trình tự mã số khí tượng để sắp xếp trường khí tượng của ba trường sinh mệnh lớn thành khí, linh, tượng, số, lý thì mới phát triển thành hình người có xương có thịt như ngày nay.

Xin hãy chú ý trong chương này chúng tôi chỉ bàn về kết cấu ổn định về sinh mệnh của con người, không bàn luận đến các trạng thái dị biến, cũng khống phải là nhũng trạng thái khác biệt trong kết cấu Ổn định này. Hệ thông định tính của mật mã sinh mệnh được đúc kết trong quá trình nghiên cứu trạng thái bình thường và dị biến trong quá trình diễn biến của sinh mệnh. Hình dáng con người ở đây được coi là một chỉnh thể, nếu coi là một nguyên tố thông tin của sinh mệnh vũ trụ thì mật mã sinh mệnh là sự tái diẽn của mật mã vũ trụ, mô thức kết cấu sinh mệnh của cơ thể con người chính là sự tái diễn của mô thức kết cấu vũ trụ; nếu coi cơ thể con người là sự thu nhỏ của mô thức kết cấu sinh mệnh vũ trụ, thì các bộ phận của cơ thể con người củng trở thành một nhân tố thông tin sinh mệnh nhỏ.

Quan sát sự phân bô của các mật mã sinh mệnh khác nhau trên cơ thể con người từ góc độ sự thực khách quan của thông tin sinh mệnh có thể thấy có một khu vực đặc biệt. Khu vực này là hệ thống định vị do mật mã sinh mệnh tự tổ chức. Các bộ phận, các khí quan, các hệ thông sinh mệnh hợp thành của cơ thể con người đều có hệ thống định vị riêng rất nghiêm ngặt. Chúng tập hợp thành một cơ thể người hoàn chỉnh, một con người có sức sống.

Bất kì một ước số sinh mệnh cục bộ nào của vật chất sinh mệnh đều bao gồm trạng thái chỉnh thể và quan hệ kết cấu của vật chất sinh mệnh này, đồng thời giữa chúng luôn có tính đối ứng rất hợp lý. Mỗi một ước số sinh mệnh cục bộ đều có thể phóng đại vô hạn, thành một thế giới, trong một không gian sinh thái nhất định thể hiện trạng thái chỉnh thể và quan hệ kết cấu của vật chất sinh mệnh mà nó tượng trưng. Tất cả các gen di truyền của sình mệnh hữu cơ đều tồn tại trong các nhiễm sắc thể, kết cấu hai hình xoắn ốic của nhiễm sắc thể chính là mô thức kết cấu cơ bản của dải Ngân hà và các "Tính hệ" khác và cũng là kết cấu hình xoắn ốc đường gấp khúc hình chữ s của vô cực, hoặc là kết cấu hình vẽ của thái cực, hoặc là kết cấu của hoàng cực. Bán cầu trái và phải của đại não là loại kết cấu này, tất cả các vị trí huyệt đạo của cơ thể đều thuộc dạng kết cấu này. Khi chúng ta nạp khí vào chính là kết cấu giao ứng "Hắc động" hình xoắn ốc ngược chiều kim đồng hồ, khi chúng ta thải khí ra chính là kết cấu giao ứng "Bạch động" hình xoắn ốc thuận chiều kim đồng hồ. Lấy rốn làm trung tâm, cánh tay trái và đùi phải, đùi trái và cánh tay phải tạo thành kết cấu hình chữ thập xoắn Ốc, giống như “Ngân hạc” và “Ngân tí” của dải ngân hà.
Do đó, đầu là một nhân tố thông tin của sinh mệnh, lưBi là một nhân tố thông tin của sinh mệnh, tai là một nhân tố thông tin của sinh mệnh, tay là một nhân tố thông tin của sinh mệnh, chân là một nhân tố thông tin của sinh mệnh, chúng tạo thành một hình dáng con người hoàn chỉnh. Tại mỗi một vị trí tương quan của nhân tố thông tin đều thể hiện trên các nhân tố thông tin này theo trạng thái hoàn chỉnh và hệ thống kết cấu do cơ thể con người tự tổ chức. Đây chính là nguyên nhân có thể xác định mật mã sinh mệnh thể hiện hệ thống định vị thông tin của khu vực cấu thành tướng mệnh. Chỉ có nắm được hệ thống định vị này, chúng ta mới có thể xác đinh và phán đoán được bệnh tật xuất phát từ bộ phận nào của cơ thể khoẻ mạnh.
I. ĐỊNH VỊ BỆNH TẬT ở
LỤC PHỦ NGŨ TẠNG QUA TƯỢNG MặT
Y học Trung Quốc cho rằng, các bộ phận trên mặt đều tương ứng với các chức năng của lục phủ ngũ tạng trong cơ thể. Bởi thế, thời xưa các cụ ta thường đoán bệnh tật qua sắc mặt của người bệnh để từ đó đưa ra cách điều trị phù hợp.
Các phủ tạng trong cơ thể ứng với các bộ phận trên mặt như sau: Giữa trán ứng với trán; phía trên ấn đường ứng với yết hầu; ấn đường (hay mệnh môn, mệnh cung) ứng với phổi; giữa hai mắt (sơn căn hay tị căn) ứng với tim; sông mũi (khoảng giữa tị căn đến tị chuẩn) ứng với gan; đầu mũi ứng với lá lách; cánh mũi ứng với dạy dày; nhân trung ứng với bàng quang, tử cung; khoé miệng ứng với mé đùi trong; phía trên góc mắt trong ứng với ngực; khoảng từ hai gò má hất vào, sống mũi hất ra, phần trên ứng với tiểu tràng (ruột non), phần dưới ứng với đại tràng; xương gò má ứng với vai; cung quyền (xương hình cung từ xương gò má đến mép tai) ứng với cánh tay; phía dưới cung quyền ứng với tay; má dưới xương gò má ứng với thận; dưới má ứng với rốn; phía trên quai hàm ứng với lưng; dưới vân pháp lệnh phía ngoài vân khoé miệng ứng với đùi; má ứng với đầu gối.

 

II. ĐỊNH VỊ MẬT MÃ SINH MỆNH TƯỢNG TAI

Rất nhiều kinh nghiệm thực tiễn về phương pháp trị liệu châm cứu ở tai đã cho thấy, vành tai hoàn toàn không phải là một cơ quan thính giác cô lập đơn giản, mà là một cơ thể thu nhỏ và là một hình thai nhi lộn ngược. Vì thế vành tai và các bộ phận khác trên cơ thể có mốì quan hệ khăng khít với nhau. Mỗi bộ phận trên cơ thể đều có một “đặc khu” trên vành tai, đại thể là: chân bờ vành tai tượng trưng cho hoành cách mô; toàn bộ bờ vành tai tượng trưng cho đoạn dưới trực tràng, niệu đạo, cơ quan sinh dục ngoài, hạch hạnh (a-mi-đan); vành tai tượng trưng cho chi trên; bờ vành tai tượng trưng cho thân người và chi dưới; mé ngoài lỗ tai biểu trưng cho mũí, mé trong biểu trưng cho yết hầu, xung quanh là tuyến thượng thận; mặt trước bên dưới của bờ tai là trán; chính giữa dái tai là mắt; chân và tay đều nằm ở phần trên của vành tai. Có thể thấy rằng, trong 5 ngũ quan thì tai mang những thông tin sinh mệnh học đặc thù.

III. ĐỊNH VỊ MẬT MÃ SINH MỆNH TƯỢNG TAY

Nội dung chính của phần này tập trung bàn về mật mã vân tay.

Tuy nhiên, mật mã vân tay chỉ là một phương thức biểu hiện bên ngoài của trạng thái sinh mệnh con người. Nếu muốn tìm hiểu tại sao loại mật mã này xuất hiện ở đây lại phản ánh một trạng thái nhất định của các cơ quan phủ tạng, thì chúng ta phải tìm hiểu thêm về hệ thống định vị của tứ chi và các khí quan hiện trên bàn tay. Đó chính là định vị mật mã tổng thể tượng tay.

Dựa theo kinh nghiệm hàng nghìn năm của cha ông ta, kết quả nghiên cúư của các nhà khoa học trong và ngoài nước, cũng như thực tiễn hoạt động của bản thân, chúng tôi thấy rằng cần nghiên cứu sâu thêm các nghiên cứu trước đây của các bậc tiền bối.

Thứ nhất, 12 kinh mạch trên tay và chức năng các khí quan thể hiện trên 10 ngón tay, lục phủ ngũ tạng đối ứng chỉ vẽ ra được một cách khái quát lớn, còn nó đối ứng với bệnh thái cụ thể nào thì chưa rõ.

Thứ hai, người xưa căn cứ trên luật “toàn tức vũ trụ” và nguyên lý “thiên nhân hợp nhất” đã biết rõ rằng mu bàn tay đối úng với chức năng của lục phủ ngũ tạng, của gân cốt tứ chi (trong đó lấy xương sống làm chủ đạo) và chủ yếu tập trung chú ý vào huyệt vị, nhờ đó mà sáng tạo ra hình vẽ ứng dụng lâm sàng trị liệu qua huyệt vị trên lòng bàn tay và mu bàn tay (hình 8A, 8B), châm cúư bằng kim và mát sa. Phương pháp châm cứu huyệt tay (tức châm kim trên một số huyệt đặc biệt của phần tay, được phát triển từ đầu những năm 60 của thế kỷ 20) có thể chữa trị bệnh tật một số bộ phận trên cơ thể và mang lại hiệu quả điều trị rõ rệt. Tuy nhiên, chưa có sự miêu tả cụ thể về mặt hình thái của kinh mạch, huyệt vị và mạch khí hiển thị trên hình tay, vân tay, sắc tay, hình ngón tay, sắc ngón tay.

Thứ ba, khoa học nghiên cứu về vân tay, tượng tay thời trước chưa diễn đạt được mối quan hệ hình thái giữa “tiên thiên bẩm phú” (các yếu tố bẩm sinh) và “hậu thiên tiêu hao” (sự mai một dần sau khi sinh ra) về mặt sinh lý, bệnh lý và y lý. Nếu có thì cũng rất khó hiểu vì nó huyền bí và dùng nhiều ẩn ngữ, ví von. Ngoài ra, những hình vẽ đi kèm thường không được rõ nét cho lắm nên không thể tham chiếu được. Người xưa do hạn chế về thời đại và xã hội trọng nông trọng thương nên các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào Phúc, Lộc, Thọ, Sĩ, Binh, và trọng nam khinh nữ, “y tượng phân lưu” (tách biệt giữa chữa trị và xem tướng). Như vậy còn có rất nhiều lĩnh vực chưa được đề cập tới, cần phải bám vào hiện trạng và nhu cầu của xã hội để có những bước nghiên cứu tiếp theo về mật mã sinh mệnh vân tay.

Thứ tư, cùng với sự sáng lập và phát triển phương pháp châm cứu, “thủ tạng tượng” (nghiên cứu các phủ tạng qua hình dạng tay) đã mở ra phương pháp tư duy mới cho việc chẩn đoán sinh mệnh qua vân tay.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của người xưa, cộng với nhiều năm nghiên cứu của bản thân, tôi thấy rằng tượng tay là một chỉnh thể phức hợp nhiều tầng về cơ thể.

Phát hiện đầu tiên là tượng tay hiển thị 3 hình người thu nhỏ trên tay.

Thứ nhất là hình người thu nhỏ có phần đầu nằm trên ngón tay giữa, đỉnh đầu trên đầu mút ngón tay và phủ phục ở mặt lưng ngón tay, nên gọi là huyệt khu “tượng phủ phục”. Đây là khu tướng tay trên phần mu. Đôi ứng với nó là khu tướng tay trên lòng bàn tay.

Hình người thu nhỏ thứ hai và thứ, ba lộn ngược so với hình người trên, đầu hướng xuống dưới, chân lộn lên trên, cuộn như hình thai nhi, na ná như hình cái tai. Hai hình người thu nhỏ này một cái nằm ở mé xương cổ tay của ngón tay cái; một cái nằm ở mé xương trụ cẳng tay của ngón tay út. Có thể nói đây là hai mật mã tổng thể khác về sinh mệnh.

Từ đó tôi phát hiện thêm rằng: hình tướng hiển thị trên lưng của 5 ngón tay (mu bàn tay) là mật mã sinh mệnh phần lưng của con người; hình tướng hiển thị trên mặt trong của 5 ngón tay (lòng bàn tay) là mật mã sinh mệnh phủ tạng của con người; ngón trỏ và ngón cái kết hợp với nhau tạo thành mật mã sinh mệnh tổng thể của một cơ thể; ngón tay áp út và ngón tay -út kết hợp với nhau cũng vậy. Người xưa đã không đi theo mạch tư duy mà chúng ta vừa đưa ra, chưa thoát khỏi huyệt vị kinh lạc, thiên địa phủ tạng, chưa nghiên cứu hệ thống dấu hiệu hiển thị ra bên ngoài từ các hình tướng trên. Bởi thế, nên không thể sáng lập ra hệ thống toàn tức sinh mệnh để giải mã sinh mệnh được.

Thứ năm, “khoa học nghiên cứu về vân da” của người phương Tây cho chúng ta thấy người phương Tây đã ý thức được rằng các bệnh biến sinh lý của các bộ phận trong cơ thể người đều hiển thị trên vân tay, nhưng mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các ví dụ và tích luỹ số liệu, chứ chưa đứng ở góc độ vĩ mô xem xét con người là một hệ thống sinh mệnh lớn, từ quy luật vi mô trên bàn tay, lưng bàn tay, từ tầm vĩ mô của mật mã sinh mệnh, của khoa học sinh mệnh nhân thể, từ quy tắc, quy phạm thông tin tổng thể vũ trụ, thiên nhân hợp nhất để tổng kết, đưa ra một hệ thống chặt chẽ, nghiệm chứng thực tế có thể thao tác được... Những gì chúng tôi đã làm và những gì chúng tôi trình bày trong cuốn sách này chính là đang xây dựng hệ thốhg đó.

Thứ sáu, cho đến nay, giới Đông y, giới khí công, giới khoa học nghiên cứu vân tay ở phương Tây, giới tượng tay học mới xuât hiện ở Đông Dương, giới tượng'tay học, tượng mệnh học ổ Trung Quổc và khu vực Đông Nam Á, vẫn quy ước rằng: nam trái nữ phải; nam xem bên trái, nữ xem bên phải; trái tiên thiên, phải hậu thiên; cha bên trái, mẹ bên phải; chồng bên trái, vợ bên phải... Đây là những sai lầm về mặt lý luận truyền thông của triều đại phong kiến. Căn nguyên của nó có thể là “thiên tôn địa ti”, “nam tôn nữ ti”. Đó là giới hạn lịch sử của thời cũ. Ngày nay người ta vẫn còn tin theo nó, đó là cái cặn bã. Bởi thế, nó đã trói buộc sự phát triển tiếp theo của khoa học sinh mệnh truyền thống.

Chúng tôi đã xây dựng nên hệ thông định vị mật mã sinh mệnh đốì ứng'giao thoa giữa bàn tay trái, bàn tay phải với phủ tạng cơ thể. Từ đó có thể giải thích và thao tác một cách toàn diện mật mã sinh mệnh cơ thể người, đồng thời loại bỏ những cách định vị sai lầm của phương pháp “đồ chẩn tay” trước đây, xây dựng nên hệ thông định vị mật mã tổng thể về sinh mệnh Thiệu Vĩ Hoa.

Hệ thông định vị mật mã sinh mệnh Thiệu Vĩ Hoa có những nội dung chính như sau:

1. Định vị mật mã tổng thể lòng bàn tay

Lòng bàn tay trái và phải đều là hình thể hiện lục phủ ngũ tạng trong cơ thể, nó liên thông với huyệt vị kinh lạc thuộc hệ thông phủ tạng. Lòng bàn tay còn có môi quan hệ với các dấu hiệu vân tay. Khi lòng bàn tay hướng lên trên, lấy ngón tay giữa làm mốc, vị trí phủ tạng được thể hiện trên tay trái phải tương phản nhau. Tức là, khi lòng bàn tay trái hướng lên trên, ngón tay giữa là phần đầu, ngón tay trỏ và ngón tay cái đối ứng với phủ tạng và chi bên phải của cơ thể; lòng bàn tay phải hướng lên trên, ngón giữa đối với phần đầu, ngón trỏ và ngón cái đối ứng với phủ tạng và chi bên trái của cơ thể, còn ngón áp út và ngón út đối ứng với phủ tạng và chi bên phải cơ thể (Hình 38).

Khi bàn tay trái, phải hướng xuống dưới, phủ tạng của cơ thể đối ứng với các ngón tay sẽ thống nhất với vị trí thực tế của chúng trên cơ thể (Hình 35).

Khi lòng bàn tay của cả hai tay trái, phải đều hướng lên trên, nhìn đồng thời thì thấy tay trái đối ứng với phủ tạng và chi bên phải của cơ thể; tay phải đối ứng với phủ tạng và chi bên trái của cơ thể. (Hình 56).

2. Định vị mật mã sinh mệnh bàn tay đơn

Trên mỗi bàn tay có 5 tượng thông tin về sinh mệnh:

(1) Tạng thủ phục là tượng sinh mệnh hình người thu nhỏ (Hình 38).

(2) . Ngón tay cái là một tượng sinh mệnh. Đốt tay thứ nhất là đầu, đốt tay thứ hai là cổ, đốt tay thứ ba là tim, cơ quan hô hấp, cơ quan tiêu hoá và cơ quan sinh sản (Hình 42, 43).

(3) Đường sinh mệnh là một tượng sinh mệnh. Đầu ở ngón tay cái (hoặc gò Mộc tinh), nhưng đoạn khởi đầu của đường sinh mệnh cũng có thể xem là đầu, tiếp theo là dạ dày, đường hô hấp trên, đoạn ruột nối dạ dày và ruột non, tiểu tràng (ruột non), đại tràng, thận, hội âm, đầu gối, ống chân (Hình 42, 43).

(4) Ngón tay cái và ngón tay trỏ hợp với nhau tạo thành tượng sinh mệnh rìa bàn tay trong. Đầu ở xương cổ tay, do đó mệp ngoài ngón tay cái là hệ thống hô hấp, mép trong là lá lách, dạ dày, hệ tiêu hoá, đường ruột. Đó là lý do tại sao nói gò Kim tinh chủ lá lách, dạ dày. Ngón cái là chi trên trái, phải; ngón trỏ là chi dưới trái, phải (Hình 41)7

(5) Ngón út và ngón áp út hợp với nhau thành tượng rìa bàn tay ngoài. Đầu nằm ở xương trụ cẳng tay, vì thế đầu cuối gò Nguyệt chủ phổi và các cơ quan hô hấp, nhưng gò ngón út chủ thận, chức nống sinh sản, mệnh môn, ngón út chủ chi trên trái phải, ngón áp út chủ chi dưới trái phải (Hình 41).

(6) Lấy ngón giữa làm chuẩn, đường trục giữa dọc từ đầu ngón tay đến gò Địa là trung mạch của tạng thủ phục, đầu, mắt, mũi, mồm, họng, khí quản, phổi, tim, rốn, thận, cơ quan sinh dục, hội âm. Hai bên tay trái phải đôi xứng và hợp với nhau thành tượng sinh mệnh chỉnh hợp của cơ thể người (Hình 42, 43).

* Chú thích đặc biệt

Hình vẽ định vị mật mã sinh mệnh chẩn trị lòng và mu bàn tay của Trịnh Tú Mỹ sử dụng tổng hợp cả mật mã tượng thủ phục, tạng





00
o





Điềm hoảng loạn





Khu vực sinh dục





Thần môn





Khu vực tim





Thiếu trạch





Thần kinh quanh tim





Thần kinh tam tiểu





Thần kinh đai tràng





Thẩn kinh tim. ruột non





Hậu khê (suôi sau)





Thần Thiếu kinh xung





Điểm đau lưng





Vùng





ngực.




• kinh

kinh


r\bao

A đ?'


II

>1


1«1 1

Trung 1


1 Duang\

xung 1


1 *Uũs\

1




—•1


1 Điềm

1 Đ/ếmỊ


1 ran/) đẩu

1 dinh ■















đẩu sau





Điểm iền đầu





Dịch môn cùa dịch)





;KtiúVựịị phẩn xị huyết àp





Phế kinh





Phế kinh





Thiếu thường





HỢp cốc





Điểm eo chăn





Điềm đau mũi





Lòng bàn tay

-Điểm nhiều mổ hói

—Điềm dạ dày. ruột

Khu vực kiện lý tam chẩm

' Khu vực chân, dúi





ương cốc Dương trì





Hình 35: Hình vẽ định vị mật mã sinh mệnh
chẩn trị mu bàn tay của Trịnh Tú Mỹ





Hình 34: Hình vẽ định vị mật mã sinh mệnh
chẩn trị lòng bàn tay của Trịnh Tú Mỹ














































thủ phục, tượng mép tay, tạng mép tay, cũng như các hình trong lòng và trên mu bàn tay truyền thống của người Trung Quốc, tương đối rõ nét, thích hợp dùng cho xoa bóp, châm cứu. Chúng ta có thể dùng nó trong việc tìm kiếm mật mã'vân tay và phán đoán ý nghĩa của mật mã vân tay.



Tam gian (tiêu hoá không tốt, hen suyễn)





Nhị minh (cận thị)



Điểm nhãn (đau mắt. xung huyết, tổn thũng ngoài mắt)

Hình 36: Vị trí chẩn trị trên cạnh bàn tay và mu bàn tay


* Chú thích đặc biệt

Hình nhánh (1) của hình này thực tế là hình tạng (tượng) rìa ngoài lấy ngón út làm chủ, hình nhánh (2) thực tế là hình tượng thủ phục do ngón cái và ngón trỏ tạo thành, đầu ngón là phần đầu.

Hình này thể hiện rõ nét từng điểm huyệt vị để có cách chẩn trị bệnh tương ứng; có ý nghĩa định tính của mật mã sinh mệnh.




* Chú thích dặc biệt

Đây là hình chẩn đoán bàn tay khí công, dùng cảm khí để chẩn bệnh, tức ỉà thầy khí công dùng thể khí để cảm ứng vị trí bệnh trong cơ thể người bệnh, trên từng bộ phận tương ứng của cơ thể sẽ xuất hiện cảm giác tê, mỏi, chướng, nóng, lạnh, nhức, đau nhói, sắc khí thay đối, từ đó có thể chẩn đoán bệnh tình của người bệnh.

Phương pháp định vị tượng tay này dùng phương pháp “kinh thủ túc tam âm tam dương” của Đông y truyền thống. Từ lưng ngón cái đến lưng ngón út đến sát mặt cạnh của xương cổ tay là dương, theo thứ tự kiểm tra bệnh khí, bệnh biến của ngũ phủ: dạ dày, mật, tiểu tràng, đại tràng, bàng quang. Từ ngón cái đến bụng ngón út và đến sát mặt bên của xương trụ cẳng tay là âm, theo thứ tự kiểm tra bệnh khí, bệnh biến của ngũ tạng: Lá lách, gan, tim, phổi, thận.

Trên đây là một số nội dung về định vị phủ tạng cơ thể trên bàn tay, ngón tay, độc giả có thể kiểm chứng thêm trong quá trình hoạt động thực tiễn của bản thân mình.



Hình 38: Định vị mật mã sinh mệnh trên lòng bàn tay phải, trái của Thiệu Vĩ Hoa

* Chú thích dặc biệt

Hình vẽ này là định vị tượng thủ phục phủ tạng cơ thế’ người.

Khi lông bàn tay hướng lên trên, chủng ta nhìn thấy là các phần trái phải của chi trên, chi dưới, vị trí trái phải có đảo cho nhau so với các chi trên cơ thể người thực tế.

Khi lòng bằn tay hướng xuống dưới, tứ chi thể hiện trên tay trái tay phải đúng vị trí trái phải trên thực tế. Các cơ quan nội tạng cơ thể đối ứng trên tay cũng tương tự như vậy. Nam nữ không có gì khác biệt, cổ kim không có gì khác biệt, người Trung Quốc với người nước ngoài không có gì khác biệt, tiên thiên, hậu thiên không có gì khác biệt. Đây là quy định vốn có của cấu tạo cơ thể, cho nên khi giải thích mật mã sinh mệnh, chúng ta phải quan sát đều cả tay trái và tay phải, nếu lòng bàn tay hướng lên trên thì phải đối chiếu ngược xuống, có thế mới chẩn đoán bệnh vị một cách chuẩn xác được.





Hình 39: Định vị mật mã sinh mệnh tượng thủ phục
trên mu bàn tay trái của Thiệu \fí Hoa

* Chú thích đặc biệt

Trên mu bàn tay là một hình nhân ngồi co, trên thực tế là hình thai nhi đầu lộn xuống dưới, trông giống như hình cái tai. Khi chúng ta đưa tay lên cao, ngón tay hưởng lên trên, chúng ta nhìn thấy một hình người ngồi đầu hướng lên trên, lưng quay về phía độc giả. Nhưng, khi hai tay trúc xuống dưới, đầu lại cúi xuống dưới. Đó chính là hình thai nhi nằm co trong tử cung bụng mẹ. Xin độc giả lưu ý rằng, hình dạng của tay chính là hình quả lê của một tử cung, 5 ngón tay là cổ tử cung, bàn tay là khoang tử cung.

* Chú thích dặc biệt

Tượng nhiêu đảo và tượng xích đảo (tượng ở hai rìa bàn tay ngoài và trong) là hai tượng hình người lộn ngược. Tượng nhiêu đảo (rìa trong) có phần đầu được tạo thành bởi ngón tay cái và ngón tay trỏ ở chỗ xương cố’ tay. Tượng xích đảo (rìa ngoài) có phần đầu được tạo thành bởi ngón út và ngón áp út ở chỗ xương trụ cẳng tay. Đó là trong trường hợp các ngón tay chỉ lên trên. Còn khi các ngón tay




trúc xuống dưới thì hai “tượng ngược” này đứng dậy, đầu hướng lên trời, chân đạp đất như người bình thường.

Tượng nhiêu đảo và tượng xích đảo lấy tứ chi làm chủ, xương cột sống làm tâm quay. Ngón cái, ngón út là hai cánh tay và tay; ngón trỏ và ngón áp út là hai đùi và chân.

Đường đứt đoạn trong hình vẽ biểu thị xương ngón tay. Tổ hợp xương ngón tay trông giống như hai hình người lộn ngược, có tác dụng củng cô' thêm chứng cứ cho ý nghĩa đối ứng của mật mã sinh mệnh.



Hình 41: Hình vẽ định VỊ mật mã sình mệnh tạng nhiêu đảo và tạng xích đảo của Thiệu Hoa Tử


* Chú thích đặc biệt

Hình 40 cũng có thể dùng để xem đối ứng thể vị của tạng nhiêu đảo và tạng xích đảo. Cả hai hình 40, 41 đều phác thảo sơ bộ về tứ chi mình thể và lục phủ ngũ tạng trên lòng bàn tay, dùng để xác định mối quan hệ giữa nội tạng và các phần ngoài cơ thể, tiện cho việc tìm vị trí bệnh khi chấn đoán bệnh.

Tim nio



Hình 42-A: Vị trí mật mã sinh mệnh chẩn đoán lòng bàn tay của Thiệu Hoa Tử






Hình 42-B: VỊ tri mật mã sinh mệnh chẩn đoán lòng bàn tay của Thiệu Hoa Tử (tiếp)



* Chú thích dặc biệt

Hình vẽ lòng bàn tay này tập trung thể hiện những khu vực phân bô' của mật mã sinh mệnh. Thiệu Hoa Tử dựa vào những khu vực phân bô' đó để chẩn đoán bệnh tật qua vân tay. Do tổng hợp được 6 loại tượng tin tức sinh mệnh của mật mã sinh mệnh (bao gồm: Tượng sinh mệnh chỉnh hợp năm ngón, lấy ngón giữa làm tâm; tượng sinh mệnh ngón cái; tượng sinh mệnh đường sinh mệnh; tượng sinh mệnh chỉnh hợp ngón cái và ngón trỏ; tượng sinh mệnh chỉnh hợp ngón áp út và ngón út; tượng sinh mệnh trong biểu tướng huyệt vị kinh mạch và lục phủ ngu tạng), nên gọi là định vị mật ma toàn tức sinh mệnh.

(1) . Trong chương thứ nhất của cuốn "Châm cứu học” có đoạn viết: Đông y truyền thống Trung Quốc 'coi nội tạng là âm, phủ là dương; nội trắc là âm, ngoại trắc là dương; nhiêu trắc là dương, xích trắc là âm; lưng là dương, bụng là âm. Bởi vậy, khi đặt tên 12 kinh mạch có kinh thủ túc tam âm tam dương. Tam dương lần lượt là dương minh, thiếu dương, thái dương; tam âm là thái âm, quyết âm, thiếu âm.

Kinh thủ tam âm: Đường phổi-thái dương tay, đường bao tâm- quyết âm tay (âm trắc ngón giữa), đường tâm-thiếu dương tay (âm trắc ngón út).

Kinh thủ tam dương: Đường đại tràng-dương minh tay (dương trắc ngón áp út), đường tam tiêu-thiếu dương tay (dương trắc ngón giữa), đường tiểu tràng-thái dương tay (đương trắc ngón út).

Kinh túc tam âm: Đường lá lách - thái dương chân (âm trắc ngón cái), đường gan - quyết dương chân (âm trắc ngón trỏ), đường thận - thiếu dương chân (âm trắc ngón út).

Kinh túc tam dương: đường dạ dày - dương minh chân (dương trắc ngón cái), đường mật - thiếu dương chân (dương trắc ngón trỏ), đường bàng quang - thái dương chân (dương trắc ngón út).

Hai đường âm dương trên cùng một ngón tay hỗ trợ nhau trong ngoài, cũng chính là phủ tạng hỗ trợ nhau trong ngoài. Mối quan hệ trong ngoài này khiến cho nội tạng biến hoá hiển thị ra ngoài bàn tay và đã được y học Trung Quốc có lịch sử hàng nghìn năm chứng thực.

(2) . Định vị mật mâ sinh mệnh chỉnh hợp năm ngón tay lấy ngón giữa làm tâm. Trong hệ thống định vị này, năm ngón tay (ngũ chỉ) là đầu; bàn tay là ngực, bụng, thắt lưng; ngũ chỉ còn kiêm cả tứ chi. Nhưng, chủ yếu thể hiện trạng thái chức năng của 5 khí quan là đầu, ngực, bụng, thắt lưng, thận.

Trong đó, ngón giũa là bộ tư lệnh, bộ thống soái, hệ thống tuần hoàn máu tim não, hệ thống trung khu thần kinh, ngũ quan đều xuất phát từ đầu. Ngón trỏ, ngón áp út đều có chức náng của tim não và ngũ quan (tai ở hai bên của ngón), nhưng lấy tim, não, thần kinh, mắt làm chủ, cho nên 3 ngón tay giữa này chủ yếu là định vị của tim, não, thần kinh và mắt.

Trên đường giữa bàn tay, gò ngón giữa là họng, hầu, khí quản, thực đạo, khoang ngực, phổi, thực đạo; hai bên còn có khu vực thể hiện sự mơ mộng, mất ngủ, nằm ở phía trên hai bên của đốt thứ nhât xương ngón tay giữa. Gò ngón trỏ chủ yếu là hệ thống gan mật. Gò ngón áp út chủ yếu là thần kinh thị giác, cảm giác, thần kinh trung khu và ngực trái. Gò ngón út chủ yếu là sinh sản, tử cung, tinh hoàn, dương vật, thận...

Trên gò Nguyệt và gò ngón cái chủ yếu là cơ quan hô hấp và hệ tiêu hoá. Gò Địa là khu vực hệ sinh sản, tiểu đại tiện... Phía trên nó là đường ruột, lá lách, dạ dày, tuỵ và tim. Điểm giao nhau giữa đường trí tuệ và đường sính mệnh chính là tim. Tim chủ tư duy, biểu trưng cho trí thông minh và mô thức tư duy. Điểm này rất khác biệt so với y học phương Tây. Tim chủ tư duy là bản năng bẩm sinh của con người ở thời kỳ thai nhí.

(3) . Định vị tượng sinh mệnh của đường sinh mệnh

Hệ thống định vị này đóng vai trò hết sức quan trọng trong thực tiễn chẩn đoán bệnh qua vân tay, nó cấu thành hệ thống và biểu thị trạng thái sinh mệnh của mồi người, vì nó liên thông với đường trí tuệ (tim), đường tình cảm (trung khu thần kinh), nên sinh lý, tâm lý, hành vi và bệnh tật của mỗi người đều hiển tượng ở đây.

Ngoài những điều hiển thị trong hình vẽ ra, cần nhấn mạnh thêm 3 điểm sau:

1. Khởi điểm của đường sinh mệnh là phần đầu, phía trên có gan mật, gan mật chủ tạo huyết, giải độc, sáng mắt, tập trung tinh thần, gan mật còn liên thông với dạ dày và tuy, chủ thu nạp. Phía dưới là đường hô hấp, cung cấp ôxi, từ đó chia ra một đường nhánh là đường tâm trí, từ đây cung cấp dưỡng khí cho tim. Dưỡng khí càng đầy đủ thì khả năng bài thải chất độc hại càng tốt. Cho nên, trên thông tâm não, dưới đạt hấp thu tiêú hoá, có vậy sức sống mới dồi dào. Bên cạnh đó là đoạn nối dạ dày và ruột non, nối tiếp xuống là tiểu tràng (ruột non). Tim và phổi bất luận là thịnh hay suy, hư hay thực, nóng hay lạnh, đều ảnh hưởng đến chức năng của tiểu tràng. Có “hoả”, nóng quá thì bị táo bón, còn tích nước thì trướng bụng.

2. Khu thận và khu sinh sản là khu tai hại nhất. Đau yếu ở khu vực thắt lưng thường gắn liền với những khu đó. Khu vực này có đới mạch, xung mạch quân vòng quanh eo, tạo thành khu vực cửa mệnh thứ hai. Khu sinh sản vẽ một bên là tử cung và một bên là tinh hoàn, nói lên sự khác nhau về cơ quan sinh dục giữa nam và nữ, chứ không phải là tay trái là tay con gái, tay phải là tay con trai.

Trên đường sinh mệnh thường có một đường hay nhiều đường nghiêng xuống dưới tới gò Địa (tam giác địa dới), đánh dấu các bộ phận đại tràng, đầu gối.

3. Khu vực từ phần tương ứng với gối trở xuống là khu vực thuộc về eo và chi dưới. Thông thường khu vực chi dưới dừng lại ở dường vân cổ tay. Còn phần eo lưng thì ở vị trí trên cổ tay, và thường dài đến mặt sau của gò ngón cái - nói lên sự trường thọ - ở đây vân tay chàng chịt, nếu có nhiều hình tròn, hình sao, hình tam giác, hình thoi thì là nhiều bệnh. Nhưng chỉ cần không bị đứt đoạn là có thể yên tâm sổng lâu trăm tuổi.

Gò ngón cái hay gò Nguyệt đều nằm trên vân cổ tay (xương cồ tay và xương trụ cẳng tay) và liên hợp với gò Địa, tiếp nối với cánh tay, bởi vậy là một khu tướng mệnh cực kỳ nhạy cảm.

4. Định vị tượng sinh mệnh tổng thể ngón út, ngón áp út và tượng sinh mệnh ngón cái, ngón trỏ.

Tượng sinh mệnh ngón cái và ngón trỏ là tượng trung tâm, chủ yếu thể hiện trạng thái của tim, hệ hô hấp, hệ thống lá lách và dạ dày. Còn chân và các bộ phận cơ thể ở dưới eo thì lại nằm ở phía dưới gò ngón cái gần cổ tay, đồng thời kéo dài đến phần mu bàn tay.

Tượng sinh mệnh ngón út và ngón áp út về cơ bản là tượng sinh mệnh của tạng xích đảo vì thê không cần phải giới thiệu chi tiết nữa. Nó chủ yếu thể hiện tính chất của “Kim” và “Thuỷ”, chủ thận, phổi, cơ quan sinh dục, chủ mộng tưởng, khu vực chẩn bệnh là khoang ngực và khoang bụng trên, khoang bụng dưới, khoang xương chậu.

(1) Ba ngón giữa của bàn tay tượng trưng cho phần đầu, trong đó ngón giữa là trung tâm, hai bên là bổ trợ, ý nghĩa tương tự.

Khi quan sát ba ngón tay hơi cong này có thể phát hiện ra đốt thứ nhất của cả ba ngón tay đều có hình của con "Mắt". Ngón trỏ tượng trưng cho gan mật, gan chủ trị mắt, khai thông huyệt ở mắt, con mắt này nằm ở đốt thứ nhất của ngón trỏ. Đốt thứ nhất của ngón đeo nhẫn là huyệt của gan, khai thông huyệt mắt và cũng có thể coi là một "con mắt".


(2) Đốt thứ nhất của ngón út là huyệt "Mệnh môn", đốt thứ hai là huyệt thận. Thận chủ trị xương và tai, hiện hình ở tai.

(3) Gò ngón út tượng trưng hệ thống sinh dục của cả nam và nữ giới, trên gò này có đường tử tức, thế hiện chức năng sinh dục. Do đó, đường con cái, đường tử tức, đường hôn nhân, đường tình yèu, đường tình cảm, đường vân thể hiện sự trưởng thành ở độ tuổi thanh niên... đều tập trung tại đây.

Hình 43: Định vị mật mã sinh mệnh chẩn đoán lòng bàn tay của Thiệu Hoa Tử

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

MẬT MÃ SINH MỆNH CỦA 5 NHÓM NGƯỜI VÀ 3 TẠNG NGƯỜI ( tiếp theo )

Chỉ tay toàn thư chương 10