Chỉ tay toàn thư chương 6-7
CHƯƠNG 6:
PHƯƠNG VỊ BÁT QUÁI
Khi xem tướng tay, người phương Tày xem các gò bàn tay, người Trung Quốc thì định phương vị theo bát quái, nên gọi là “xem bát quái”. Bát quái đầy đặn thì việc gì gặp hung cũng hóa cát. Tiêu chuẩn phán đoán bát quái và gò bàn tay có chỗ tương đồng, có chỗ khác nhau, có điều tên gọi của bát quái tương đối khó nhớ. Nguyên lý cơ bản của phương vị bát
Cung khảm
Khảm là cửa biển, thuộc Thủy, có nghĩa là gốc gác. Trong tướng tay học phương Tây không có gò sao này. Nó nằm ở dưới tâm bàn tay (minh đường), phía trên cổ tay, tức giữa Kim tinh và gò Thái âm, tướng tay học Trung Quốc gọi đó là đầu bàn tay, cho thấy cãn cơ tổ nghiệp. Cho nên vị trí này đầy đận thì sản nghiệp tổ tièn có chỗ dựa, cả đời cơm áo đầy đủ và may mắn, thông minh tài trí, xử sự quyết đoán, biết dùng người, con cháu hưng thịnh, về già càng tốt. Nếu thấp lõm thì tổ nghiệp khó có chỗ dựa, làm việc hay do dự, cả đời vất vả, gia đình khó Ếm ấm, sức khỏe không tốt. Nếu bộ vị này thấp lõm, lại có khí sắc đen tối thì không được bơi lội vì e gặp thủy ách, hoặc tổ nghiệp phá sản. Nếu có ba đường chỉ ngang trông như quẻ càn thì nam giới kỵ nước để phòng ách, không được bơi lội; nữ giới khó sinh, để phòng băng huyết khi sanh đẻ.
Cung cấn
Cấn là núi, thuộc Thổ, bộ vị này tương đương với gò Kim tinh trong tưđng tay học phương Tây. Quan điểm của tướng tay học phương Tây là gò Kim tinh cần đầy đặn vừa phải, nhưng không được quá lồi cao để tránh hư vinh, tình dục mạnh mẽ, e vì nữ sắc mà hại đến thân. Nhưng tướng tay học Trung Quốc thì cho rằng: Núi không ngại cao, càng cao thì càng tốt, cho thấy cơ thể cường tráng, tiền của nhiều. Vì cung Cấn nắm về của cảí, ruộng vườn, anh em, nên cung Cấn đầy đặn thì người đó ôn hòa nhân từ, anh em hòa thuận, sơ vận thuận lợi, ruộng vườn nhiều, sớm có con, bản thân khỏe mạnh, ít bệnh, làm việc nhiệt tình, có quyết tâm, cần cù và học rộng. Nếu bộ vị này thấp lõm mà có gân chỉ nổi lên thì anh em không hòa thuận, vận thiếu niên, trung niên của bản thần không tốt, bất lợi cho con cái, làm việc đầu voi đuôi chuột, thiếu nghị lực, không thích giao tế, không thích hoạt động, sợ chịu trách nhiệm, sức khoe không tốt. Nữ giới kinh nguyệt không đều, vợ chồng tình cảm nhạt nhẽo. Nêu khí sắc bộ vị này đen tối thì đề phòng vợ con hoặc anh em bất hoà, hoặc mắc bệnh hệ sinh dục.
Cung chấn
Chấn là sấm, thuộc Mộc, nên cần mạnh dạn, chủ về thé thiếp và địa vị của bản thân, cho thây cơ hội và sự tiến thoái của bản thân thời thanh niên, Bộ vị này tương ứng với Hỏa tinh thứ nhất trong tướng tay học phương Tây. Cung Chấn đầy đặn hồng hào thì ruộng vườn đại vượng, chủ về lấy được vợ hiền, trăm sự thuận lợi, tính cách dũng cảm, giỏi giang, có chí tiến thủ, trung niên đại phát đạt. Vị trí này ở nữ giới đầy đận thì được chồng yêu thương, gia tài hưng vượng. Nếu thấp lõm thì thiếu dũng khí, khó có học vấn; vì suy nghĩ nhiều, thiếu quyết đoán nên khó thành đại sự, hơn nữa duyên thê thiếp mỏng, khó hòa hợp, thậm chí chia ngả đôi đường, hoặc vì vợ bệnh mà tan gia bại sản, thời trẻ sẽ vất vả. Ngoài ra nếu có nhiều đường chỉ tạp loạn thì nam giới sẽ lấy vợ nóng tính, nữ giới lấy chồng nóng nảy, cố chấp. Nếu đường trí đạo và đường sinh mệnh giao nhau và xuất phát từ cung Chấn thì tính cách nóng nảy, phải chú ý tu dưỡng kiềm chè. Nếu cung Chấn có khí sắc đen tối, cho thấy đường ruột bị bệnh, hoặc vấn đề hòn nhân sẽ không thuận lợi, cần đề phòng tai họa bất ngờ.
Cung tốn
Tốn là gió, thuộc Mộc, tương ứng với gò Mộc tinh trong tướng tay học phương Tây, chủ về của cải, có thực quyền, còn gọi là cung quý Vận tinh. Nếu cao lồi đầy đặn thì tính cách lương thiện, thiếu niên vận tốt, thống minh, có ý chí dộc lập, có quyền lực chi phối người khác, có tính thần trách nhiệm, rất ghét những người tham lam ngông cuồng và vố trách nhiệm, không hề e ngại vạch trần mặt nạ của họ. Cả đời tài vận rất tốt, gặp hung hóa cát. Nếu thấp lõm thì ít thu nhập, thiếu nièn vận không tốt, không tụ tài, bôn ba đất khách. Nếu khí sắc đen tối cho thấy gan suy nhược, trong lòng lo lắng, trầm uất, đề phòng bị trộm phá tài.
Cung ly
Ly thuộc Hỏa, cung này còn gọi là cung quý quan lộc hoặc quan tinh, nắm vận mệnh trung niên. Do đó cung này đầy đặn thì trung niên phát đạt, tài lộc đều vượng, nèn làm công chức, không nên kính doanh. Nếu thấp lõm thì vô duyên với quan vị, tuy phú quý vinh hoa nhưng khó lâu dài, tiểu nhân quá nhiều, thường gặp trắc trở, những người này không nên làm công chức, mà nên kinh doanh. Nếu khí sắc tối đen thì đề phòng mất chức hoặc bị hỏa hoạn.
Trong tướng tay học phương Tây, cung Ly bao gồm hai bộ vị là Thổ tinh và Thái dương. Thổ tinh đại diện cho cô độc, chàm chỉ, cảnh giới, trầm uất; gò Thái dương đại diện cho huy hoàng, thành công và mỹ cảm, cung Ly đều có những dặc điểm này. Trong tướng tay học phương Đông, cung Ly đại diện cho quan lộc, sự cô độc, thành cồng.
Cung khôn
Khôn là đất, là mẹ, thuộc Thổ, chủ về phúc dức, nên còn gọi là cung quý Phúc tinh, tương đương với gò Thủy tinh trong tướng tay học phương Tây, là nơi để xem hôn nhân và con cái. Cung này đầy đặn cao lồi cho thây mẹ là người phúc đức, con cái ngoan hiền, bản thàn sông thọ, vợ là nội tướng hiền, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, được quý nhân phù trợ, sự nghiệp thành công, vận tuổi già càng tốt. Nếu cung này thấp lõm thì không nên kết hôn sớm, không được có con sớm, con trưởng cần nhận người có phúc đức làm cha mẹ nuôi. Nếu thấp lõm mà lại bị thương hoặc chỉ tay xéo xung phá thì thường là người mồ côi mẹ sớm, tình cảm vợ chồng cũng khó hòa hợp, hay cãi nhau và sống ly thân, phúc đức đương nhiên cũng bị ảnh hưởng, khó tích lũy được tài sản. Nếu khí sắc đen tối cho thấy mẹ hoặc vợ gập tai nạn.
Cung đoài
Đoài là đầm lầy, thuộc Kim, cung này còn gọi là cung nô bộc, chủ về thuộc hạ, dùng người, tướng tay học phương Tây gọi bộ vị này là gò Hỏa tinh thứ hai. Cung Đoài đầy đặn thì được thê tài, vợ chồng hòa thuận, cuộc đời nhiều thu nhập phụ, bản thân đám làm dám chịu, yêu thương cấp dưới, được cấp dưới kính trọng. Nếu thấp lõm thì tiên thiên không đủ, sức khỏe không tốt, tính nóng, khồng nhẫn nại, dùng người bất trung, tiểu nhân quá nhiều, thường phiền não vì vấn đề tiền bạc, kết hôn với người khác tỉnh. Nêu đường trí đạo đâm vào cung này thì có tính cách phản kháng. Nếu cung này có khí sắc den tối, thì e sẽ liên lụy vì bạn bè mà phá tài hoặc bị thuộc hạ hại.
Minh đường
Minh đường là tâm bàn tay, tướng tay học phương Tây gọi là bình nguyên Hỏa tinh, tướng tay học phương Đông gọi là cung quý Thiên nhất. Cung này cho biết sự lao khổ, an nguy, cát hung của con người. Nên phẵng đầy, kỵ chỉ tay ngang đâm loạn dể’ tránh tâm trí phiền loạn. Cung này xuât hiện điểm trắng và trệ thì phá tài. Có sắc xanh thì chủ về thị phi lo sợ. Có sác đen tôi thì chủ về sắp mắc bệnh nặng hoặc sắp có tai họa bất ngờ. Nếu có màu đỏ thì tài vận sắp đến, của cải hưng thịnh.
CHƯƠNG 7
PHÂN LOẠI NGỦ HÀNH
Các nhà tướng học xem tướng tay trước hết là xem hình dạng, các đường chỉ và màu sắc của bàn tay đế’ xác định thuộc tính ngũ hành của nó. Ngũ hành là tên gọi chung của kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Ngũ hành tượng trưng cho các nguyên khí của trời đất, quan niệm truyền thống phương Đông cho rằng con người sinh ra nhờ tụ được nguyên khí của trời đất, cho nên có thuộc tính của âm dương ngũ hành. Nhưng nguyên khí của một con người không nhất thiết là có đủ ngũ khí, có trường hợp chì có khí của một hành, có trường hợp nhiều khí hỗn hợp mà thành, hoặc nặng hoặc nhẹ, hình sắc đa dạng, nhưng dù thê nào cũng không tách khỏi ngũ hành. Do đó các nhà tướng tay học dùng ngũ hành để luận về con người, tức là bắt tay từ cái gốc, nếu biết được cái gốc của người đó thì sự hiển ngu, trí muội, cát hung của người đó cũng có thể biết được đại khái.
Bàn tay hình kim
Bàn tay vuông ngón tay vuông, sắc nhuận mà xương mềm, đường chi thanh tú.
Kim tượng trưng cho nghĩa, tính tình ngay thẳng không a dua, tuân thủ pháp luật, trọng lý trí chứ khống theo số đông. Đầu óc thực tế, không chuộng hư vinh, yêu quý bản thân, cần kiệm, ý chí kiến định. Thiếu linh hoạt, nhưng có nguyên tắc, văn võ song toàn, giỏi kinh doanh.
Bàn tay hình mộc
Bàn tay dài, ngón tay dài, gầy mà không trơ xương, nhiều đường chỉ thẳng, đốt ngón tay có mấu.
Mộc trượng trưng cho lòng nhân, nên người có bàn tay hình mộc thì trường thọ và có lòng nhân từ.
Hiếu học, suy nghĩ sâu sắc, trí tuệ cao, nhẫn nại, dũng cảm, quả đoán, không sợ thất bại, ý chí kiên cường. Thích văn học, có óc thẩm mỹ, có lòng nhân ái, nhưng hay chấp nhặt, người này phát triển tương đối chậm, nên thiên về văn chương, nhà giáo dục, làm công chức hoặc chính trị.
Bàn tay hình thủy
Bàn tay mập, ngón tay tròn, tay mềm vân nhỏ, đường chỉ tay sâu và rõ ràng, có nhiều đường chỉ kép.
Thủy tượng trưng cho trí tuệ, thông minh, có thể thích nghi với hoàn cảnh, dễ phiêu bạt bất định.
Thích tìm tòi, có khả năng hùng biện, thích các con số, tài hoa xuất chúng, phát triển trong giới văn học là thích hợp nhất. Nếu ngón cái ngắn nhỏ thì thích nhàn nhà xa hoa, dễ bốc đồng, tình cảm thất thường, làm việc thiếu kiên nhẫn.
Bàn tay hình hỏa
Bàn tay và ngón tay đều nhọn, tay thô to và lộ gân cốt, bàn tay màu đỏ, chỉ tay sâu.
Hỏa tượng trưng cho lễ, người có kiểu bàn tay này thì giữ lễ, cẩn thận.
Bề ngoài nho nhã Ịich sự, nhưng bên trong nóng vội, tư tưởng rộng, hay ảo tưởng, hay dựa dẫm. Không tính đến hậu quả. Người tuy thòng minh nhưng hình khắc lục thân, tính tình thất thường, có vợ con muộn. Người có bàn tay hình hỏa tương đối vất vả, nên theo nghề quân đội, cảnh sát.
Bàn tay hình thổ
Bàn tay và ngón tay đều dày chắc, da và vân đều thô, chỉ tay rất ít.
Thổ tượng trưng cho tín, người có kiểu bàn tay này thì trang trọng và giữ chữ tín.
Tinh lực dồi dào, khắc khổ, nhẫn nại, làm việc nhanh nhạy và giàu óc sáng tạo, con người thành khẩn, tính tình cố chấp, dám làm dám chịu, khống chuộng hư vinh, ý kiến ít, tình cảm dễ xung dộng, có thể làm nhiều nghề; con cháu, phúc đức đều tốt.
Nhưng không nhiều người có kiểu bàn tay hình “kim, mộc, thủy, hỏa, thổ” thuần túy, nêu có thì đại phú đại quý, nếu có hình kim thì tùy theo tính chất của hình kim mà phán đoán tốt xấu, điều này liên quan đến triết lý “ngũ hành tương sinh tương khác”, tương sinh là chì mối quan hệ dung hòa lẫn nhau, tương khắc là biểu thị mối quan hệ đối nhau tranh nhau.
Thê nào là sự sinh khắc của ngũ hành? Sinh là: kim sinh thủy, thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim. Khác là: kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim. Lẽ sinh khắc cò nhiên như trên, nhưng còn có cái gọi là phản sinh khắc, tức là kim vòn dựa vào thổ để sinh, thổ nhiều thì chôn kim; thổ vòn dựa vào hỏa để sinh, mà hỏa nhiều thì thố khô; hỏa vòn dựa vào mộc để sinh, mà mộc nhiều thì hỏa tắt; mộc vốn dựa vào thủy để sinh, nhưng thủy nhiều thì mộc trôi nổi; thủy vòn dựa vào kim để sinh, mà kim nhiều thì thủy đục. Cứ thê loại suy, gọi là phản sinh khắc, mục đích cua nó không ngoài nói rõ cái nghĩa “tốt quá hóa xấu”, tức là vạn sự vạn vật quý ở sự “trung hòa”.
Trên đây đả giới thiệu ngũ hành và lẽ sinh khắc của chúng, giờ chúng ta hãy nghiên cứu bàn tay hỗn hợp ngũ hành. Trước hết, chúng ta hãy làm rỏ những đậc trưng của hình bàn tay lúm mộc thủy hỏa thổ:
Kim - có đặc trưng là thịt bàn tay không dày không mỏng, thẳng ngay, vuông vức và có màu trắng.
Thủy - có đặc trưng là mập tròn thịt nặng, màu đen và bóng.
Mộc - có đặc trưng là bàn tay và ngón tay dài mà gầy thẳng, xương cứng và đẹp, màu xanh.
Hỏa - Có đặc trưng là nhọn, màu đỏ.
Thổ - có đặc trưng là dày chắc, màu vàng.
Theo các đặc trưng ngũ hành nêu trên, chúng ta giả thiết phát hiện mu bàn tay hình kim có thịt dày, màu nâu vàng, vậy có thể biết được bàn tay đó hình kim có thổ; nếu nhận thấy bàn tay hình kim mập và ngón tay tròn, thì đó là bàn tay hình kim có thủy; loại suy tương tự đối với các trường hợp còn lại. Bàn tay hình kim có thổ, nếu thổ không dày (tức bàn tay không dày mà màu vàng không đồng nhất thì thổ có thể sinh kim, nó dày mà không đến nổi chôn kim, nên bàn tay hình kim có thổ là tốt, giàu sức sống. Nhưng khi đó còn phải kiểm tra xem người đó sinh vào mùa nào trong bốn mùa xuân hạ thu dông mới dễ đưa ra kết luận cuối cùng. Bởi lẽ ba mùa xuân hạ dông đều không phải là mùa vượng của kim, nếu có thổ sinh phù trợ thì chỉ có lợi chứ không có hại. Nếu sinh vào mùa thu thì kim thịnh vượng, nên đâu ngại thổ sinh thêm? Nếu thổ mỏng thì không thành vấn đề, nếu thổ dày thì sẽ quá cứng, “quá cứng thì gãy”, đó là lẽ thường tình của sự vật, vì như thế chưa thấy cái lợi đã thấy ngay cái hại. Cho nên cùng là hình kim có thổ, nhưng nêu không kiểm tra rõ mùa sinh thì không thể vội vàng nhận định là có lợi hay có hại. Cái lợi hại của hình kim có thổ là như thế, nếu có thủy thì sao? Trước tiến cũng phải xem mùa sinh để biết được lẽ sinh khắc. Nhưng chô khác nhau giữa thủy và thổ là ở chỗ, thủy “tiết” kim, thổ “sinh” kim, sinh và tiết là sự đối chiếu tương phải, nên tôi thích bàn tay hình kim có thủy mà sinh vào mùa thu chứ không thích sinh vào các mùa khác, vì bản thân mạnh thì mới chống được tiết. Tóm lại đù hình kim có kèm theo cái gì thì lẽ cân nhắc cũng tương tự. Dưới đây sẽ trình bày năm loại hình bàn tay có kèm theo các hình chất khác.
Hình kim có kèm các hình khác
Hình kim kèm thổ thường là bàn tay tốt, có điều thổ dày thì không tốt cho người sinh vào mùa thu, vì quá vượng thì không tốt, người đó sẽ gập nhiều trắc trở.
Hình kim kèm thủy thì người đó thồng minh linh hoạt, sinh ra vào mùa thu sẽ rất tốt, nếu sình vào các mùa khác thì không nên vì thủy khí quá nặng, khó tránh khối nhiều thành bại. Người tuy thông minh nhưng làm việc thiếu kièn nhẫn và khống thực tế.
Hình kim kèm hỏa (chủ yếu biểu hiện là đầu ngón tay nhọn mỏng), nếu chỉ có một chút hỏa thì tốt, vì “lửa nhỏ luyện kim”, có thể trở thành đại khí. Nếu sinh vào mùa thu là tốt nhất. Vòn bàn tay hình kim tương đương với bàn tay hình vuông trong tướng tay học phương Tây, hình vuông là chín chắn, nhưng thiếu linh hoạt, hơi kèm chút hỏa thì chín chắn lại thêm linh hoạt sẽ tốt hơn. Nhưng hỏa quá nặng (tức ngón tay quá nhọn mỏng) thì không phải là tướng tốt, mà sẽ mất đi sự chín chắn và trở nên hời hợt.
Hình kim kèm mộc (chủ yếu biểu hiện là đốt ngón tay có mấu), rõ ràng là tướng tốt, người này có tư duy chặt chẽ và sâu sắc, nhiều tài hỷ, vì kim khắc mộc thì sinh tài. Nhưng mộc khí quá nặng (tức hình tay khô gầy) thì không cát.
Hình mộc kèm các hình khác
Hình mộc kèm thổ, thổ mỏng thì tài dày, thổ dày thì không nên, quá dày thì mộc gãy, trừ phi người đó sinh vào mùa xuân thì không có trở ngại gì đáng kể.
Hình mộc kèm kim thì kim mỏng là tốt, vì người đó sẽ rất chín chắn và da trí, có thể thành công lớn. Nếu kim nặng thì cả đời vất vả, bại nhiều thành ít, nhưng sinh vào mùa thu thì không đáng ngại.
Hình mộc kèm hỏa, hỏa nhẹ thì có lợi, người đó sẽ rất linh hoạt đa trí, nhưng ít nhẫn nại. Nêu hỏa mạnh thì không tốt, quá mạnh thì mộc cháy.
Hình mộc kèm thủy, thủy ít sẽ có lợi, trừ phi sinh vào mùa hạ, còn các mùa khác đều kỵ thủy nhiều.
Hình thủy kèm các hình khác
Hình thủy kèm mộc (tức đốt ngón tay hơi lồi, màu xanh trắng và sáng), có thể phú quý phúc lộc, tốt nhất là sinh vào mùa đông. Mộc quá nặng thì thủy khô, không tốt.
Hình thủy kèm kim (tức đầu ngón tay hơi vuông, màu chuyển trắng), cũng chủ về phú quý phúc lộc, nhưng sinh vào mùa xuân, hạ, thu thì tốt, mùa đông thì hơi kém. Nêu kim quá năng thì khống nên, nhất là vào mùa đông.
Hình thủy kèm hỏa (tức ngón nhọn, bàn tay đỏ), thì tài lộc tuy rộng, nhưng thảng trầm vô thường. Sinh vào mùa đông thì tốt hơn. Sinh vào mùa hạ nếu hỏa khí lại nặng thì tối kỵ.
Hình thủy kèm thổ (tức thịt mu bàn tay rất dày, màu vàng), thổ mỏng thì hông sao; thổ dày, trừ phi sinh vào mùa đông, còn không đều không nên, nếu lại thêm màu sắc khố vàng thì người đó đoản thọ.
Hình hỏa kèm các hình khác
Hình hỏa kèm thổ, thổ mỏng thì có lợi, năng thì không tốt, nhưng nếu sinh vào mùa hạ thì không kỵ thổ nặng.
Hình hỏa kèm mộc, mộc mỏng thì có lợi, nhưng giảm bớt tính xung động của người đó, làm việc tương đối thận trọng. Dày thì không nên, sinh vào mùa hạ là tốt.
Hình hỏa kèm kim, kim mỏng thì tài nguyên dồi dào, sinh vào mùa hạ là tốt nhất. Nếu kim nặng thì không nên, nhất là sinh vào hai mùa thu đông.
Hình hỏa kèm thủy là tối kỵ, nếu bàn tay có màu đen đặc thù thì càng không phải là điềm cát.
Hình thố kèm các hình khác
Hình thổ kèm mộc thì không tốt, vì mộc khắc thổ. Nêu mộc nặng thì đại kỵ. (Ghi chú: trong các hình bàn tay ngũ hành, trừ hai hình kim mộc hơi khắc nhưng có lợi ra, các hình khác đều kỵ khắc, tức hơi khắc cũng bất lợi).
Hình thổ kèm kim ít thì có lợi. Nêu màu quá trắng tức kim nặng thì bất lợi.
Hình thổ kèm thủy chủ về tài lợi đều vượng. Nhưng thủy khí quá nặng ]ại không có lợi, khí đó cuộc sống khó được yên định.
Hình thổ kèm hỏa, nếu đặc trưng của hỏa chỉ biểu hiên ở bàn tay có màu đỏ, thì chủ về đại lợi. Nếu biểu hiện đầu ngón tay nhọn thì không cát, làm việc khó thành công.
Kim không sợ vuông, mộc không sợ gầy, thủy không sợ mập, hỏa không sợ nhọn, thổ không sợ đục.
Kim được kim, tính cương nghi.
Mộc được mộc, tài lộc đủ.
Thủy được thủy, văn học quý.
Hỏa được hỏa, thấy thành quả.
Thổ được thổ, tủ kho dày.
Nèn nếu đầy đặn nghiêm cẩn, không giàu thì sang; nếu nông mỏng nhẹ khô, không tâm thì yểu mệnh11.
Hình thổ kèm mộc thì không tốt, vì mộc khắc thổ. Nêu mộc nặng thì đại kỵ. (Ghi chú: trong các hình bàn tay ngũ hành, trừ hai hình kim mộc hơi khắc nhưng có lợi ra, các hình khác đều kỵ khắc, tức hơi khắc cũng bất lợi).
Hình thổ kèm kim ít thì có lợi. Nêu màu quá trắng tức kim nặng thì bất lợi.
Hình thổ kèm thủy chủ về tài lợi đều vượng. Nhưng thủy khí quá nặng ]ại không có lợi, khí đó cuộc sống khó được yên định.
Hình thổ kèm hỏa, nếu đặc trưng của hỏa chỉ biểu hiên ở bàn tay có màu đỏ, thì chủ về đại lợi. Nếu biểu hiện đầu ngón tay nhọn thì không cát, làm việc khó thành công.
Kim không sợ vuông, mộc không sợ gầy, thủy không sợ mập, hỏa không sợ nhọn, thổ không sợ đục.
Kim được kim, tính cương nghi.
Mộc được mộc, tài lộc đủ.
Thủy được thủy, văn học quý.
Hỏa được hỏa, thấy thành quả.
Thổ được thổ, tủ kho dày.
Nèn nếu đầy đặn nghiêm cẩn, không giàu thì sang; nếu nông mỏng nhẹ khô, không tâm thì yểu mệnh11.
Nhận xét
Đăng nhận xét